Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Văn học Việt Nam của tác giả Phạm Thị Cẩm Vân (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, 2018) tập trung nghiên cứu toàn diện về tác gia Nguyễn Hành (1771–1824) – một gương mặt tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX.
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
- Nguyễn Hành là một tác gia lớn, được xếp thứ hai cùng với chú ruột là Đại thi hào Nguyễn Du trong nhóm "An Nam ngũ tuyệt" (năm nhà thơ kiệt xuất của Việt Nam thời bấy giờ).
- Dù có vị trí quan trọng trong nền thi ca chữ Hán dân tộc, các công trình nghiên cứu trước đây về Nguyễn Hành phần lớn chỉ dừng lại ở việc giới thiệu văn bản, sưu tầm hoặc đưa ra những nhận định mang tính định kiến lịch sử; hệ thống giá trị nội dung và nghệ thuật thơ ca của ông chưa được khảo sát một cách toàn diện và chuyên sâu.
- Thơ văn Nguyễn Hành chứa đựng nguồn tư liệu phong phú phản ánh chân thực hiện thực biến động của thời đại, cung cấp thêm cứ liệu để đối chiếu, so sánh và hiểu sâu sắc hơn về Tố Như cũng như truyền thống văn chương dòng họ Nguyễn Tiên Điền.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Hành trong bối cảnh lịch sử – xã hội đầy biến động của giai đoạn giao thời Lê mạt – Tây Sơn – Nguyễn sơ.
- Phân tích, làm rõ hệ thống giá trị nội dung tư tưởng trong thơ Nguyễn Hành qua các chủ đề: tâm sự hoài Lê, nỗi day dứt trước thời thế loạn lạc, nỗi niềm bần hàn lưu lạc và tình cảm với quê hương, đất nước, con người.
- Phân tích các phương diện nghệ thuật đặc sắc: thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật và ngôn ngữ biểu đạt trong thơ chữ Hán của tác giả.
- Xác định vị trí, vai trò và đóng góp của Nguyễn Hành đối với tiến trình văn học trung đại Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống tác phẩm thơ văn chữ Hán của thi sĩ Nguyễn Hành.
- Phạm vi tư liệu: Tập trung khảo sát văn bản hai tập thi ca chính là Minh quyên thi tập (177 bài thơ) và Quan Đông hải (bao gồm thơ, tựa, bạt, ký, phú), được tổng hợp đầy đủ nhất trong ấn bản Thơ Nguyễn Hành (Mai Quốc Liên chủ biên, Nguyễn Thị Hằng biên khảo, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học – NXB Văn học, 2015) gồm 222 bài thơ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận đối tượng từ góc độ thi pháp học tác giả và văn học sử trung đại, kết hợp chặt chẽ giữa phân tích văn bản học Hán Nôm và bối cảnh lịch sử – văn hóa.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử – xã hội: Đặt tác phẩm và tư tưởng của Nguyễn Hành vào bối cảnh khủng hoảng của chế độ phong kiến Đàng Ngoài, phong trào Tây Sơn và sự xác lập của triều Nguyễn để lý giải tâm trạng, thái độ chính trị và cảm quan hiện thực của nhà thơ.
- Phương pháp tiểu sử: Liên hệ cuộc đời thực tế của tác giả (dòng dõi quý tộc sa sút, mồ côi sớm, cuộc đời phiêu bạt nghèo khó ở Bắc Thành) với mạch cảm xúc và đề tài tự thuật trong thơ.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức văn học với sử học (sử liệu triều Lê, Tây Sơn, Nguyễn; các ghi chép trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt Nam phong sử, Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền).
- Phương pháp thống kê, phân loại và so sánh: Thống kê số lượng bài thơ theo chủ đề; đối chiếu tư tưởng, thi pháp của Nguyễn Hành với Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan và các tác gia cùng thời.
Nguồn dữ liệu và tiến trình văn bản học
Khóa luận đã tổng hợp lịch sử sưu tầm, phiên dịch văn bản thơ Nguyễn Hành qua các mốc thời gian:
| Năm | Công trình / Văn bản | Số lượng bài / Đặc điểm ghi nhận |
|---|---|---|
| 1958 | Bản chép tay Minh quyên thi tập do Ôn Trai Phạm Khắc Khoan sao chép (Ký hiệu Vv.109 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm) | Phát hiện từ tủ sách họ Cao Điền (Diễn Châu, Nghệ An). |
| 1959 | Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (Quyển III) – Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi | Nhận định bước đầu về tư tưởng hoài Lê; nhắc tới 3 tập: Minh quyên thi tập, Quan Đông hải, Thiên dị nhân vật sử thi. |
| 1963 | Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (Tập 3) – Huỳnh Lý, Đỗ Đức Hiểu, Lê Thước... | Trích dịch 12 bài thơ; ghi nhận hai tập Quan Đông hải và Minh quyên phả. |
| 1978 | Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (Tập 3, tái bản lần 2) | Bổ sung thêm 2 bài, lược bỏ 1 bài; tổng cộng giới thiệu 13 bài. |
| 2000 | Tổng tập văn học Việt Nam (Tập 14) – Đặng Đức Siêu | Phiên dịch 73 bài thơ và dịch Minh quyên phả dẫn. |
| 2015 | Thơ Nguyễn Hành – Mai Quốc Liên chủ biên, Nguyễn Thị Hằng biên khảo | Tuyển tập đầy đủ nhất: gồm 222 bài thơ kèm nguyên văn chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Những vấn đề chung
Chương này phác họa bức tranh toàn cảnh về thời đại lịch sử, gia thế, tiểu sử và sự nghiệp trước tác của Nguyễn Hành:
- Hoàn cảnh lịch sử – xã hội: Cuộc đời Nguyễn Hành (1771–1824) trải qua hơn 50 năm đầy biến động, trực tiếp chứng kiến sự sụp đổ và thay thế lẫn nhau của ba triều đại (Lê – Trịnh, Tây Sơn, Nguyễn). Tình trạng khủng hoảng cung đình Đàng Ngoài, nạn kiêu binh (1784), bão táp khởi nghĩa nông dân mà đỉnh cao là phong trào Tây Sơn, cùng các đợt thiên tai, đói kém triền miên đã tạo nên sự đứt gãy lớn trong đời sống xã hội và ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới quan của tác giả.
- Tiểu sử và con người: Nguyễn Hành (tên thật là Đạm, tự Tử Kính, hiệu Nam Thúc) sinh ra trong dòng dõi danh gia vọng tộc họ Nguyễn Tiên Điền (Nghi Xuân, Hà Tĩnh). Ông là con Điền Nhạc hầu Nguyễn Điều, cháu nội Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm, cháu gọi Nguyễn Du bằng chú ruột. Năm 1784, biến cố kiêu binh phá hủy tư dinh của bác ruột là Nguyễn Khản; cha ông bị bãi chức về quê và qua đời năm 1786 khi Nguyễn Hành mới 15 tuổi. Nguyễn Hành không tham gia thi cử, không cộng tác với triều Tây Sơn lẫn triều Nguyễn, sống đời lưu lạc, nghèo khó tại Bắc Thành và mất năm 1824.
- Sự nghiệp sáng tác: Tác giả để lại hai tập thơ chính là Minh quyên thi tập (177 bài, tập trung vào nỗi niềm hoài Lê và cảnh ngộ bần hàn nơi đất khách) và Quan Đông hải (gồm các bài tựa, bạt, ký, phú và các bài thơ vịnh nhân vật lịch sử, liệt nữ, suy ngẫm thế sự). Tác phẩm thứ ba mang tên Thiên địa nhân vật thư (hoặc Thiên dị nhân vật sử thi) hiện chưa tìm thấy văn bản.
Chương 2. Giá trị nội dung thơ Nguyễn Hành
Chương 2 là phần trọng tâm, khảo sát chi tiết 4 mạch cảm hứng tư tưởng xuyên suốt trong tác phẩm:
- Nỗi niềm nhớ tiếc triều Lê cũ:
- Chi phối bởi lập trường chính thống phong kiến "Trung hiếu chi gia ninh sự nhị" (Nhà trung hiếu không thờ hai vua), Nguyễn Hành xem việc trung thành tuyệt đối với triều Lê là đạo cương thường bất di bất dịch. Ông mượn hình tượng chim đỗ quyên (chim quốc) kêu nhỏ máu suốt mùa hạ để bộc lộ nỗi đau mất triều đại (Minh quyên phả dẫn, Đỗ quyên).
- Thơ ông thể hiện thái độ đối lập gay gắt với nhà Tây Sơn (gọi quân Tây Sơn là "giặc", gọi nhà Lê là "quân ta"), sáng tác nhiều bài thơ ca ngợi các nhân vật tử tiết chống Tây Sơn như Ngự sử Nguyễn Huy Diệu (Đan Nhiệm ngự sử công tịnh dẫn), Nguyễn Tam Lân (Thuật Nguyễn Tam Lân thi)...
- Niềm day dứt trước thời thế suy loạn:
- Nhà thơ ghi lại chân thực cảnh đối lập giai cấp gay gắt: tầng lớp quan lại, địa chủ ăn chơi xa hoa, mua quan bán tước trong khi nhân dân lầm than, đói khát, tha hương cầu thực (Tây thái bình, Tân thành vịnh).
- Tố cáo sức mạnh vạn năng của đồng tiền làm đảo lộn đạo đức xã hội qua hình thức nhân cách hóa độc đáo trong bài Kim ngôn (Vàng biết nói).
- Ghi chép hiện thực đau thương về thiên tai, mất mùa và đặc biệt là trận đại dịch tả năm Canh Thìn (1820) làm chết hàng chục vạn người từ Gia Định lan ra Bắc Thành (Đại dịch, Dịch tái tác, Dịch tác).
- Thể hiện tư tưởng nhân đạo, coi trọng "đức nhân" trong chính sự và lấy việc chăm lo đời sống nhân dân làm gốc (Song ngư, Trung thu).
- Tâm sự về cuộc sống của bản thân:
- Nỗi niềm "sinh bất phùng thời": Nỗi đau đớn, uất ức của một kẻ sĩ có tài, có hoài bão lớn nhưng sinh không gặp thời, từ vị thế "công tử giàu sang" rơi xuống đáy xã hội thành "kẻ áo vải", "lão thư sinh" nghèo khó, bất đắc chí (Kỷ Mão tứ thập cửu tuế kinh xuân nhật, Tự hoài, Nghĩ cổ).
- Cảnh nghèo khổ, cô đơn nơi đất khách: Tuyển tập có gần 50 bài thơ miêu tả trực tiếp cảnh ngộ thiếu ăn, thiếu mặc, nợ nần bủa vây, sống chen chúc trong căn nhà trọ tồi tàn ở Thăng Long và Nam Sách (Đông tiêu tứ, Khách trung trung thu, Nam Sách hoài, Trường ngôn hành). Dù vậy, ông vẫn giữ cốt cách trong sạch, coi cảnh nghèo là cái lộc trời cho để giữ trọn lương tâm (Mễ tận).
- Tình cảm trước cảnh quê hương, đất nước và con người:
- Hướng về cội nguồn quê hương Tiên Điền, hình tượng núi Ngàn Hống với 99 ngọn núi hùng vĩ (Ngàn Hống sơn, Đầm sơn, Đầm thu).
- Ghi dấu hành trình lưu lạc qua các địa danh văn hóa: Hồ Tây (Tây Hồ nhị thủ), đèo Tam Điệp (Tam Điệp sơn), phường Đồng Xuân ở Bắc Thành (Đồng Xuân phường tác).
- Trân trọng ân tình của những người dân lao động nghèo, xóm giềng đã cưu mang cho gạo, cho khoai lúc gia đình khốn quẫn (Hữu quy mễ giả, Hữu huệ mễ thù giả).
- Đề cao tình bạn tri âm tri kỷ vượt qua danh phận và ca ngợi phẩm tiết của người phụ nữ, nổi bật là bài thơ vịnh Thái phu nhân tuẫn tiết theo chồng cùng 29 bài thơ ca ngợi liệt nữ và bài thơ vịnh Hai Bà Trưng (Lưỡng Trưng).
Chương 3. Giá trị nghệ thuật thơ Nguyễn Hành
Khóa luận hệ thống hóa các đặc điểm thi pháp nổi bật trong phong cách thơ chữ Hán Nguyễn Hành:
- Thời gian nghệ thuật:
- Khắc họa đậm nét thời gian đêm khuya (khoảnh khắc con người đối diện với sự cô đơn, tĩnh lặng và thân phận lữ thứ).
- Thời gian mùa thu (gợi cảm giác tàn tạ, hoài cổ, sầu bi) và mùa xuân muộn (gợi bước đi dồn dập của tuổi tác và sự trôi chảy vô vọng của đời người).
- Thời gian đối tuyến: đặt quá khứ vàng son của dòng họ/triều đình đối lập gay gắt với hiện tại đổ nát, sa sút.
- Không gian nghệ thuật:
- Không gian tha hương, lữ thứ chốn đô thành Bắc Thành đối lập với không gian hoài niệm êm đềm nơi làng quê Tiên Điền.
- Không gian vũ trụ mênh mông (sông dài, biển rộng, núi cao) khơi gợi những suy ngẫm triết lý về sự tuần hoàn sinh diệt của vạn vật và thân phận nhỏ bé của con người.
- Ngôn ngữ nghệ thuật:
- Sử dụng điêu luyện các thể thơ Đường luật chữ Hán, phối hợp giữa ngôn ngữ ước lệ, biểu tượng cổ điển (hình tượng chim đỗ quyên, tích cổ Trang Tử, Tử Phòng) với bút pháp tả thực trần trụi, cụ thể.
- Giọng điệu chủ đạo là tiếng thở than bi tráng, ai oán, thấm đẫm cảm thức lịch sử và nỗi đau nhân sinh.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Khóa luận đã hệ thống hóa và minh chứng được giá trị hiện thực sâu sắc cùng tư tưởng nhân đạo tiến bộ trong thơ Nguyễn Hành thông qua việc phân tích trực tiếp các tác phẩm tiêu biểu trong tổng số 222 bài thơ hiện còn.
- Làm sáng tỏ diện mạo một tác gia văn học mang bi kịch lịch sử: vừa kiên định bảo lưu lý tưởng trung quân với nhà Lê cũ mang tính bảo thủ, vừa là một nhà thơ hiện thực dũng cảm lên án bất công xã hội, xót thương sâu sắc cho nỗi khổ của dân nghèo trước nạn đói và dịch bệnh lịch sử năm 1820.
- Khái quát được nét độc đáo trong thi pháp thơ Nguyễn Hành, đặc biệt là sự kết hợp giữa ngôn ngữ tự thuật mộc mạc đời thường với cấu trúc thi pháp trung đại.
Đóng góp so với các công trình trước
- Khắc phục cái nhìn phiến diện, định kiến từ các nghiên cứu ở thập niên 1960–1980 (vốn chỉ quy kết thơ Nguyễn Hành vào khuynh hướng "bi quan, tiêu cực, bảo thủ phản động").
- Kế thừa thành tựu văn bản học của công trình Thơ Nguyễn Hành (Mai Quốc Liên chủ biên, 2015) để thực hiện một chuyên luận tương đối bao quát, có cấu trúc chặt chẽ đầu tiên ở cấp độ khóa luận tốt nghiệp về toàn bộ thế giới thơ Nguyễn Hành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Tư liệu nghiên cứu của khóa luận mới chỉ tiếp cận được hai tập thi ca Minh quyên thi tập và Quan Đông hải; tác phẩm Thiên địa nhân vật thư hiện vẫn thất lạc nên chưa thể đánh giá trọn vẹn toàn bộ di sản sáng tác của tác giả.
- Do quy mô của một khóa luận đại học, công trình chưa thể so sánh đối chiếu văn bản học chuyên sâu giữa các dị bản Hán Nôm chép tay của Minh quyên thi tập qua các thời kỳ.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục tìm kiếm, khảo chứng văn bản tác phẩm còn thất lạc của Nguyễn Hành.
- Mở rộng hướng nghiên cứu so sánh thi pháp giữa Nguyễn Hành và Nguyễn Du trong bối cảnh văn hóa - văn học của dòng họ Nguyễn Tiên Điền.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam, Hán Nôm học và các nhà nghiên cứu lịch sử văn học trung đại.
- Phương diện hữu ích:
- Cung cấp hệ thống tư liệu trích dẫn thơ chữ Hán phong phú kèm dịch nghĩa, dịch thơ phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy và học tập các tác giả văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX.
- Là tài liệu tham khảo giá trị cho các đề tài nghiên cứu về "An Nam ngũ tuyệt", văn phái dòng họ Nguyễn Tiên Điền và lịch sử tư tưởng Nho sĩ thời kỳ phong kiến phân liệt, biến loạn.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao Nguyễn Hành và Nguyễn Du đều có mặt trong nhóm "An Nam ngũ tuyệt"?
Theo ghi chép trong Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền, Nguyễn Hành là người thông minh, nhớ lâu, đọc nhiều sách, được người đương thời xếp thứ hai cùng với chú ruột là Đại thi hào Nguyễn Du (Thanh Hiên công) trong nhóm "An Nam ngũ tuyệt" – danh hiệu tôn vinh năm nhà thơ xuất sắc nhất của nước ta lúc bấy giờ (cùng với Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Du Oanh, Phan Huy Ích và Ngô Thời Vị).
2. Ý nghĩa nhan đề tập thơ Minh quyên thi tập được chính tác giả giải thích như thế nào?
Trong Minh quyên phả dẫn (1819), Nguyễn Hành giải thích: tiếng kêu đau thương, thảm thiết nhất không gì bằng tiếng kêu ngày đêm không ngừng trong mùa hạ của chim đỗ quyên phương Nam; tiếng thơ trong tập ngẫu nhiên tương đồng với nỗi bi thiết ấy trước cảnh "thời thế suy loạn, dân đen ly tán oán hận" và nỗi đau mất triều đình Lê cũ, nên ông lấy tên đó đặt cho thi tập.
3. Thơ Nguyễn Hành phản ánh sự kiện dịch bệnh lịch sử nào?
Trong bài thơ Đại dịch và phần tiểu dẫn, tác giả ghi lại trận dịch tả khủng khiếp bùng phát vào mùa thu năm Canh Thìn (1820 - năm Minh Mệnh thứ nhất), khởi đầu từ Xiêm La lan qua Gia Định rồi truyền ra các trấn Bắc Thành, khiến hàng chục vạn người từ quan đến dân tử vong, khắp thành thị nông thôn đều hoang mang lập đàn cầu đảo.
4. Tác giả thể hiện thái độ như thế nào đối với nhà Tây Sơn trong tác phẩm?
Do quan niệm "Trung hiếu chi gia ninh sự nhị" và trung thành với nhà Lê, Nguyễn Hành giữ thái độ thù địch với phong trào Tây Sơn: ông gọi quân Tây Sơn là "giặc", gọi nhà Lê là "quân ta", kiên quyết lẩn tránh không ứng chiếu cầu hiền của vua Quang Trung, và viết nhiều bài thơ ca ngợi các nhân vật tử tiết chống lại quân Tây Sơn như Nguyễn Huy Diệu, Nguyễn Tam Lân.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Cẩm Vân đã tái hiện một cách hệ thống, khách quan chân dung thi sĩ Nguyễn Hành cùng di sản thi ca chữ Hán đặc sắc của ông. Công trình không chỉ làm rõ bi kịch tâm trạng của một kẻ sĩ trung thành với triều đại cũ, mà còn khẳng định giá trị hiện thực sâu sắc và tư tưởng nhân văn cao đẹp qua tiếng khóc thương số phận nhân dân trong thời kỳ biến loạn lịch sử. Đây là một chuyên luận học thuật chỉn chu, góp phần bổ sung nguồn tư liệu thiết thực cho việc nghiên cứu diện mạo văn học trung đại Việt Nam giai đoạn giao thời thế kỷ XVIII – XIX.