CHƯƠNG 1 THO VAN NGUYEN THONG TRONG DONG CHAY CUA THO VAN YEU NUOC NỬA SAU THE KY XIX 1. KHÁI LƯỢC ĐIỆN MẠO VAN HQC VIET NAM GIAI DOAN NUA SAU THE KY XIX 1. Đặc điểm lịch sử - xã hội “Trong cuộc chạy đua sang Viễn Đông đẻ chiếm thị trường vả nguyên liệu, Pháp là một trong nhữ_ ng tên thực dân nhanh chân nhất. chiếm Việt Nam của tư bản Pháp đã bắt đầu hiện lên từ Hiệp ước _ Vézailles kí năm 1787 giữa triều đình Pháp và giám mục người Pháp _ Pigneau de Béhaine, “đại diện cho vua nước An Nam” (Ngụ) Ánh).
Vì những chuyển biến chính. trị đặc biệt quan trọng„ tình hình giặc giã „ sự đổi thay chính thể và triều đại ở Pháp, cũng như sự đề phòng của triều đình nước An Nam. cho nên trong hơn. nửa thế kỷ, hoạt động của chúng chỉ giới hạn trong máy chuyến buôn bán và thăm dò tình hình , gây cơ sở của bọn gián điệp đội lốt giáo sĩ.
Mãi đến năm 1858, lấy cớ triều đình An Nam khủng bố giáo sĩ. thực dân Pháp chính thức nổ súng đánh chiếm Việt Nam. Đứng trước tình hình đó , nhân dân cả nước đã nl tứng lên chống giặc với lòng yêu nước sâu sắc. Sự xâm lược của thực cân Pháp và cuộc chiến đầu chống xâm lược của nhân dân ta *là sự kiện xuyên suốt toàn gia¡ đoạn, chỉ phối moi sự kiện khác , và thu hút mối quan tâm của tắt cả mọi thành viên trong xã hội” [14, tr.
Ngày 01-09-1858, thực dân Pháp nỗ súng đánh vào cửa biển Da Nẵng, nhưng tham vọng tốc quyết tốc thắng bằng cá _ ch kéo thăng ra Huế , bức triều đình Tự Đức đầu hàng đã nhanh chóng bị quân dân nhà Nguyễn đánh bại Đứng trước sự phản kháng dữ dội của nhân dân Việt Nam và sự bắt lợi về địa hình chiếm đóng, Pháp đã đi nước cờ khác làm chuyển biến căn bản tình hình , đó là đánh vào thành Gia Định, nơi tích lũy nhiều vũ khí „ lương thực và là thủ phủ của vùng Lục tỉnh phì nhiêu. Đây quả là bước đi khôn ngoan khiển Pháp dé dang dat chân lên đất Việt Nam và sau đó mở rộng vùng xâm chiếm. Nhà Nguyễn lúc này mặc dù không còn vũng mạnh như dưới thời Minh Mạng nhưng vẫn tỏ ra là lực lượng thống trị tiến bộ khi sát cánh cùng nhân dân chiến đấu. Nhiều vị tướng đã được cử giữ những chức vụ lãnh đạo nhân dân đánh trả địch như Lê Đình Lý, Phạm Khắc Thận, Tôn Thất Hiệp, Nguyễn Tri Phuong.
Tuy nhiên , đứng trước sức mạnh hỏa lực của giặc , sự phân hóa trong đội ngũ giai cấp thống trị đã nhanh chó _ ng lộ rõ. Sự thắng thể của phái chủ hỏa, trong đó có vua Tự Đức và thái hậu , đã làm mất đi yếu tố quan trọng. là sức mạnh đoàn kết toàn dân dẫn đến các cuộc đầu tranh của nhân dân có nhiều bắt lợi và thiệt hại đáng kế. Sau các hàng ước 1862, 1874, 1883, 1884, triều đình Huế hoàn toàn mắt đi vai trỏ sứ mệnh lịch sử của mình “Tuy gặp phải sự dn áp từ hai phía là triều đình nhà Nguyễn và thực dân Pháp, nhân dân khắp nơi trong cả nước _.
đặc biệt là ở Nam Kỷ vẫn kiên quyết chống giặc. Có thể nói, cuộc chiến đấu của nhân dân ta giai đoạn này là những trang sử hảo hùng về lòng yêu nước. Nhiều nghĩa quân được thảnh lập ở các nơi với sự tham gia đông đảo củ a nhiều tẳng lớp. Điều này cũng cho.
thấy, cuộc đấu tranh nỗ ra lẻ tẻ mà không có sự lãnh đạo thống nhất, không có sự hiệp đồng tác chiến dẫn đến khả năng dễ tan rã trước sức tắn công mãnh liệt của súng ống, đạn pháo phương Tây. Những biến cố lớn lao của xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đã dẫn. đến sự phân hóa giai cấp sâu sắc. Mâu thuẫn cơ bán của xã hội phong kiến là mâu thuẫn giữa địa chủ và nông đân _, nhưng đến giai đoạn này., nổi lên hing đầu là mâu thuẫn đối kháng giữa một bên là thực dân Pháp và bẻ lũ tay sai với một bên là moi ting lớp tiền bộ yêu nước trong xã hội Đối với quảng đại quần chúng lao đông thì đến lúc này phải chịu cảnh.
áp bức "một cỗ hai tròng”. Tuy nhiên, họ chính là đội quân chủ lực của các cuộc khởi nghĩa chống Pháp và bọn tay sai. “Trong hàng ngũ giai cắp phong kiến , sự phân hóa ngày cảng rõ rệt. Nội bộ triều đình chia làm hai phe : chủ chiến và chủ hỏa.
Phái chủ hòa thắng thế và có sự ủng hộ của Thái hậu Từ Dũ và vua Tự Đức. Trong phái chủ hòa, có người hỏa vì khiếp sợ sức mạnh của giặc , có người hòa vì muốn bảo vệ quyển lợi cá nhân. bộ phận nữa không tham gia chống giặc ., cũng không hợp tác với Pháp vả triều đình Huế mà từ quan sống ân dật để giữ khí tiết Khi thực dân Pháp thực hiện xong công cuộc bình định _, mở rộng khai thác thuộc địa thì xã hội Việt Nam xuất hiện thêm nhiễu giai cắp ,tẳng lớp nữa như tư sản , tiểu tư sản , vô sản. Mỗi giai cấp , tầng lớp trong quá trình phát triển của mình đều ít nhiều đóng góp đối với sự phát triển của làn sóng đấu tranh giành độc lập của nhân dân Ngoài cuộc chiến đấu chống Pháp có tính quyết định trực tiếp thì tình "hình văn hóa tư tưởng của thời đại cũng có ảnh hưởng tới sự phát triển của văn học, Nho giáo vẫn được coi là quốc giáo.
Lúc này, việc thi cử vẫn theo lối truyền thống, “tằm chương trích cú” chẳng giúp gì được cho sự phát triển của nước nhà. Ngoài Nho giáo „ thì các dòng tư tưởng khác như Đạo giáo ., Phật giáo và các tin ngưỡng khác cũng rất ph_ át triển. Trong điều kiện dân tình đói khổ, đất nước nô lệ, nhiều người mắt hẳn niềm tin vào cuộc sống và tương l ai, chi trông mong cầu cúng „ dựa vào các giáo lý tư tưởng để an phận Việc phô biến sách báo giai đoạn nảy _ hoàn toàn nhằm mục đích truyền bá chính sách cai trị của thực dân Pháp. Các hoạt động mở trường dạy chữ quốc ngữ của thực dân Pháp không mang lại hiệu quả như mong muốn ‘Dang ké la tư tưởng cái cách xã hội của một số sĩ phu yêu nước mà Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch là hai đại diện tiêu biểu _.
Được tiếp thu văn minh , văn hóa phương tây , hai ông để ra nhiễu cải cách canh tân về đối nội, nông nghiệp , công nghiệp , thương nghiệp , quân sự, ngoại giao, giáo dục, văn hóa.Tỉnh thân chung lả phản đối thái độ phục cổ _., chú trọng thực tiễn và khoa học kĩ thuật. Tuy nhiên, những cải cách này đều bị triều đình. quên lãng hoặc thực hiện nhỏ giọt nên không có hiệu quả. Nhìn chung, tinh hình văn hóa, tư tưởng giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX chưa có chuyên biến rõ.
rệt so với giai đoạn nửa đầu thế kÿXIX. Kết quả là văn hóa không có gì đổi mới, khoa học kĩ thuật không được phát triển. tư tưởng cổ hủ, không dám đổi mới. Điểu này đã ảnh hưởng lớn đến văn học đương thời 1.2, Tink hình văn học Nhìn lại tiến trình lịch sử của thơ ca trung đại Việt Nam mười thế kỷ _„ chúng ta dễ dàng nhận thấy chưa bao giờ có một giai đoạn mà lực lượng tham.
gia sang tac lại sôi nỗi „ đông đúc như giai đoạn này. Họ khác nhau về thành phẫn xuất thân, khác nhau về địa vị xã hội, nhưng hẳu hết đều là những nhà nho nghèo xuất thân từ tầng lớp dưới trong xã hội _. Được kí thích bởi lòng yêu nước, các sĩ phu - nhà thơ, vừa đánh giặc vừa sáng tác những vẫn thơ. nóng bỏng “ V? nước tắm thân đã gửi , còn mắt cũng cam/ Giúp đời cái nghĩa đáng làm nên hư nào ngại, thơ ca miền Nam được mùa nở rộ và trở thành lá cở đầu của thơ ca kháng chiến chống Pháp.
Họ tỏa sáng không chỉ cho bầu trời phương Nam mà tiêu biéu chung cho văn học cả nước như nhà thơ. Nguyễn Đình Chiểu. Không đợi ai déi, ai bat ching dau dau một trang dep Joan, những câu thơ nóng hồi nhịp đập của một trái tìm yêu nước vĩ đại — — Nguyễn Đình C hiểu và bè bạn của ông đã làm nhịp cầu nói liền hai miễn Nam. lắc trong sự nghiệp cao cả: đánh giặc cứu nước.
“Ý thức dân tộc trước cuộc. chiến đấu chống ngoại xâm chính là ngọn nguồn cho sự thống nhất ấy và ý thức dân tộc cũng là ngọn nguồn cho sự phong phú của văn học giai đoạn này” [14, tr. 625], Khác với giai đoạn trước, đặc điểm nỗi bật của thơ văn Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX chính là tinh ct thời sự , là sự theo sát tình hì nh chính trị và phục vụ cuộc đấu tranh chính trị của nó. Thơ ca không cỏn là trỏ tiêu khién , nhọc lòng tầm chương trích cú.
„ nhả ngọc phun châu cho một người, cho một tầng lớp nhất định, mà là thơ của mọi người , của mọi lòng, là vũ khí đấu tranh. giành lại bát cơm manh áo ở đời. Nguyễn Đình Chiễu , nhà thơ tiêu biểu nhất cho văn học yêu nước chống Pháp đã kh ảng khái bày tỏ quan điểm : *Chở bao. nhiêu đạo thuyền không khăm / Đâm mắy thằng gian bút chẳng tà ".
ngày tháng phát động phong trào Cần Vương , từ núi rừng Tây Bắc xa xôi, nhà thơ Nguyễn Quang Bích đã thê hiện tắm lỏng kiên trinh của mình với dân, với nước: “Quốc thù do tại/ Tế chí vị hôi/ Thượng tướng tì hưu/ Thần bi lang sai” (Quốc thù còn đó/ Chí lớn chưa nguôi/ Xin giúp tướng sĩ/ Giết giặc sài lang). R6 rang, tính chất thời sự chi phối toàn bộ đời sống văn học đã làm thay đổi diện mạo văn học. Khác với trào lưu nhân đạo chủ nghĩa nửa cuối thế kỷ XVIIL_, nửa đầu thế kỷ XIX với những chủ để thưởng gặp như _ tình yêu, khát vọng sống của. con người, sự đầu tranh đỏi hỏi tình yêu.„ đồi hỏi hạnh phúc lứa đôi và chống lại những thế lự e phong kiến kìm hãm sự phát triển tự nhiên của nó _, đến giai đoạn này, những chủ để ấy dường như biến mắt _ để thay thế vào đó một chủ đề mới: chủ đề yêu nước chống Pháp.
Với chủ để yêu nước chống Pháp _, con người được khăng định trong.