mở đầu trong quá trình quản lý tài chính của các cơ quan Nhà nước, bắt buộc phải thực hiện trong quá trình quản lý tài chính. Vì vậy, đây là công tác vô cùng quan trọng, có ý nghĩa là: Thứ nhất, công tac lập dự toán là cơ sở dé đánh giá nhu cầu và khả năng tài chính của các cơ quan, đơn vị, qua đó giúp các cơ quan, đơn vị có thể phát huy tính hiệu quả trong quá trình sử dụng tài chính, đồng thời hạn chế những trở ngại. Thứ hai, theo nguyên tắc quản lý tài chính, chi phải dựa trên thu, tuy nhiên, hoạt động thu và chỉ trong các cơ quan Nhà nước luôn có sự khác nhau về mặt thời gian, đôi khi, các đơn vị có nhu cầu chi nhưng khoản thu không đủ đáp ứng và ngược lại. Vì vậy, kế hoạch thu và chi là rất cần thiết dé các nhà quản lý có thé điều hành co quan, đơn vị một cách chủ động.
Thứ ba, công tác lập dự toán là hoạt động làm cơ sở cho quá trình thực hiện dự toán của các cơ quan, đơn vi. Vì vậy, công tac lập dự toán g1ữ vai trò quan trọng trong hoạt động quan lý tài chính của một don vi, là kim chi nam của quá trình thực hiện dự toán sau này của đơn vi. Công tác lập dự toán cũng là một trong những thước đo đánh giá hiệu quả thực hiện dự toán của các cơ quan Nhà nước. e Yéu cầu của công tác lập dự toán Theo Thông tư số 59 ngày 23 tháng 6 năm 2003 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước, yêu cầu của công tác lập dự toán NSNN bao gồm: “1.
Dự toán ngân sách nhà nước và dự toán ngân sách các cấp chính quyền phải tong hop theo từng lĩnh vực thu, chi và theo cơ cau giữa chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chỉ trả nợ. Dự toán ngân sách của các cấp chính quyền, của đơn vị dự toán các cấp phải lập theo đúng yêu cau, nội dung, biéu mẫu và thời hạn quy định tại Thông tư này va Thông tư hướng dẫn về yêu cầu nội dung và thời han lập dự toán ngân sách nha nước hàng năm của Bộ Tài chính. Dự toán ngân sách phải kèm theo báo cáo thuyết minh rõ cơ sở, căn cứ tính toán. Dự toán ngân sách các cap phải bao đảm cân đôi theo nguyên tac sau: 4.
Đối với dự toán ngân sách nhà nước: tong số thu thuế, phí và lệ phí phải lớn hơn tông số chỉ thường xuyên và các khoản chi trả nợ; bội chi phải nhỏ hơn chi đầu tư phát triển. Đối với dự toán ngân sách cấp tỉnh: phải cân bằng giữa thu và chi trên cơ sở số thu của ngân sách cấp tỉnh gồm: các khoản thu ngân sách cấp tỉnh được hưởng 100%, các khoản thu phân chia cho ngân sách cấp tỉnh theo tỷ lệ phần trăm (%) đã được quy định và số bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương (nếu có); số dự kiến huy động vốn trong nước dé đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tang quy định tại Khoản 3 Điều 8 của Luật Ngân sách nhà nước và Điều 26 của Nghị định SỐ 60/2003/NĐ- CP ngày 6 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ. Đôi với dự toán ngân sách cap huyện, và cap xã phải cân băng thu, chi. Quyết toán ngân sách nhà nước Quyết toán NSNN là khâu cuối cùng trong quá trình quản lý tài chính năm.
Công tác quyết toán được cơ quan có thâm quyền phê chuẩn, là việc tổng kết, đánh giá hiệu quả thực hiện ngân sách và chính sách tài chính ngân sách của quốc gia, đồng thời xem xét trách nhiệm pháp lý của các cơ quan nhà nước khi sử dụng nguồn lực tài chính quốc gia dé thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước trong một thời gian nhất định. ‹ nghĩa của công tác quyết toán - Việc thực hiện tốt công tác quyết toán sẽ là tiền đề để đánh giá việc thực hiện kế hoạch tài chính năm bởi hoạt động này cung cấp các thông tin cần thiết. Qua đó, các cơ quan, đơn vi có thể rút ra những kinh nghiệm thiết thực cho năm sau. - Kết quả của công tác quyết toán giúp tô chức có thê tự kiểm điểm, đánh giá lại hoạt động của mình trong năm qua, trên cơ sở đó đưa ra những điều chỉnh kịp thời phù hợp với tình hình của đơn vi và xu hướng của xã hội.
Đặc điểm của ngân sách nhà nước Vẻ mặt nội dưng: NSNN bao gồm toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước, được xác định bởi những con số cụ thé. NSNN nhằm xác định kha năng tài chính của nhà nước, đồng thời tạo sự chủ động trong hoạt động của NSNN, tạo thế cân bang trong thu chi. Về mặt pháp ly: NSNN là kế hoạch tài chính của quốc gia, thé hiện các mỗi quan hệ về giữa nhà nước và xã hội về lợi ích kinh tế, do NSNN hoạt động trong lĩnh vực phân phối các nguồn tài chính. Vì vậy, NSNN được quyết định bởi Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở nước ta.
Việc này nhằm kiểm soát, ngăn chặn nguy cơ lạm quyền của cơ quan hành pháp. Về mặt thời gian: NSNN tồn tại trong vòng 12 tháng, tùy vào từng quốc gia ma có thời gian bắt đầu và kết thúc khác nhau, có thé bắt đầu từ ngày 01/01 đến 31/12 của năm, tuy nhiên cũng có thê bắt đầu và kết thúc vào những khoảng thời gian khác. Vé muc dich: NSNN nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Do nhu cầu chỉ tiêu, Nhà nước đã sử dụng pháp luật để ban hành chính sách thuế khoá và các tô chức, cá nhân phải nộp một phần thu nhập của mình cho nhà nước với tư cách là chủ thé thực hiện nghĩa vụ với nhà nước một cách bắt buộc.
Người dân cần ý thức được vai trò quan trọng của NSNN nhằm thực hiện các chức năng về kinh tế - xã hội trong quá trình sử dụng ngân sách. Vai trò của ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia cũng như có vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước: - Chức năng phân phối: Ngân sách nhà nước có vai trò huy động các nguồn tài chính nhằm đảm bảo cho nhu cầu chỉ tiêu của Nhà nước. Đây là vai trò quan trọng 9 nhất của ngân sách nhà nước giúp cho Nhà nước thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình. - Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính thúc day sự phát triển kinh té - xã hội: Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính quan trọng góp phần thúc đây sự phát triển của nền kinh tế, điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, én định giá cả, thị trường đồng thời giải quyết các bat ồn và những nguy cơ tiềm ân đối với sự phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, để vai trò này của ngân sách nhà nước được thực hiện tốt nhất thì ngân sách nhà nước phải có quy mô lớn, các chính sách tai khóa đưa ra phải phù hop, như vậy thì mới có thê kích thích sản xuất, kích cầu trong nước, góp phần thúc đây nền kinh tế phát triển và tăng trưởng 6n định. - Ngân sách nhà nước là công cụ bù đắp những khiếm khuyết của nên kinh tế thị trường: Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì những khiếm khuyết mà nó gây ra là điều không thê tránh khỏi. Bởi lẽ, nếu để nền kinh tế thị trường tự điều chỉnh mà không có sự điều tiết của Nhà nước thì sự phát triển đó sẽ không thé bền vững. Sự phát triển kinh tế cũng kéo theo những hệ lụy như ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo, bat 6n xã hội.
Chính vì vậy, ngân sách nhà nước chính là công cụ quan trọng góp phần bù đắp những khiếm khuyết của nền kinh tế, phân phối lại nguồn thu nhập giữa các tang lớp nhân dân, cung cấp các hàng hóa công cộng cho xã hội, phát triển cân đối giữa các vùng, miền, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái. Nội dung chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước Các khoản chi thường xuyên có thé được phân chia thành các nhóm: - Các khoản chi thanh toán cho cá nhân: tiền lương, phụ cấp lương, tiền công, tiền thưởng, các khoản đóng góp theo lương, phúc lợi tập thê và các khoản thanh toán khác cho cá nhân theo quy định. - Các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn: chi thanh toán dịch vụ công cộng, chi vật tư văn phòng, chi thuê mướn, chi công tác phi, chi các khoản đặc thù, chi đoàn ra đoàn vào, chi sửa chữa thường xuyên tai sản có định phục vụ công tác chuyên môn. - Chi mua sắm tài sản, trang thiết bị, phương tiện vật tư không theo các chương trình dự án sử dụng nguồn kinh phí thường xuyên.
- Các khoản chi phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí theo quy định, bao gồm: chỉ cho lao động trực tiếp thu phí, lệ phí. 10 - Các khoản chi thường xuyên khác. Các hoạt động chi thường xuyên của đơn vi tự đảm bao chi thường xuyên được quy định như sau: - Chi tiền lương: Đối với đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vi chi trả tiền lương theo ngạch, cấp bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định. Trong trường hợp có sự điều chỉnh tiền lương của Nhà nước, đơn vị tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị, ngân sách Nhà nước không cấp bô sung.
- Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý Đối với nội dung chi đã có định mức: Don vi tự đưa ra mức chi cao hơn hay thấp hơn định mức và quy định theo quy chế chỉ tiêu nội bộ tùy thuộc vào khả năng tài chính của mình. Đối với nội dung chỉ chưa có định mức: Căn cứ tình hình thực tế và quy chế chỉ tiêu nội bộ, đơn vi tự xây dựng mức chi phù hợp và tự chịu trách nhiệm về quyết định này. - Trích khấu hao tài sản cô định. Các giai đoạn lập dự toán và quyết toán chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước 1.