Tổng quan nghiên cứu

Chi phí dược phẩm luôn là một trong những gánh nặng tài chính lớn nhất trong hệ thống y tế công lập, thường chiếm từ 30% đến 40% ngân sách ngành y tế tại nhiều quốc gia đang phát triển và lên tới 60% tổng chi phí hoạt động của các bệnh viện tại Việt Nam. Tình trạng sử dụng thuốc thiếu hợp lý, đặc biệt là việc lạm dụng kháng sinh khi có tới 30% đến 60% bệnh nhân được chỉ định kháng sinh gấp đôi mức cần thiết, đang gây thất thoát nguồn lực và gia tăng nguy cơ kháng thuốc nghiêm trọng.

Nghiên cứu được triển khai nhằm phân tích thực trạng cơ cấu số lượng và giá trị sử dụng của 753 khoản mục thuốc tân dược, đồng thời đánh giá sự tương thích giữa việc sử dụng thuốc với mô hình bệnh tật thông qua các phương pháp phân tích chuyên sâu. Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Y tế huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp – một bệnh viện hạng III vùng biên giới với quy mô 140 giường bệnh, 239 cán bộ viên chức, phục vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn huyện và người dân khu vực giáp ranh thuộc nước bạn Campuchia.

Phạm vi thời gian khảo sát bao gồm toàn bộ dữ liệu cung ứng và tiêu thụ thuốc trong năm tài chính 2019 – 2020. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học giúp Hội đồng Thuốc và Điều trị nhận diện các điểm nghẽn trong cung ứng, giảm thiểu chi phí thuốc không cần thiết, nâng cao tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước và tối ưu hóa nguồn quỹ bảo hiểm y tế tại tuyến y tế cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết quản trị chuỗi cung ứng dược phẩm bệnh viện và các hướng dẫn chuẩn mực của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Trọng tâm lý thuyết xoay quanh mô hình quản lý danh mục thuốc thiết yếu và phương pháp đánh giá sử dụng thuốc.

Ba mô hình và khái niệm nền tảng được áp dụng bao gồm:

  • Phương pháp phân tích ABC: Phân loại danh mục theo nguyên lý Pareto dựa trên tương quan giữa số lượng tiêu thụ và ngân sách. Nhóm A chiếm khoảng 75% đến 80% tổng giá trị nhưng chỉ chiếm 10% đến 20% số khoản mục; nhóm B chiếm 15% đến 20% giá trị với 10% đến 20% số khoản mục; nhóm C chiếm 5% đến 10% giá trị nhưng chiếm đa số từ 60% đến 80% số khoản mục.
  • Phương pháp phân tích VEN: Đánh giá mức độ ưu tiên lâm sàng thành 3 nhóm gồm thuốc sống còn (Vital - V), thuốc thiết yếu (Essential - E) và thuốc không thiết yếu (Non-Essential - N).
  • Ma trận tích hợp ABC/VEN: Kết hợp chéo hai phương pháp tạo thành 9 tiểu nhóm (AV, AE, AN, BV, BE, BN, CV, CE, CN), chia thành 3 nhóm ưu tiên quản lý để phát hiện các bất hợp lý trong phân bổ kinh phí.

Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động này dựa trên Thông tư 21/2013/TT-BYT về hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị, Thông tư 30/2018/TT-BYT về danh mục thuốc tân dược thanh toán bảo hiểm y tế theo tuyến kỹ thuật, Thông tư 11/2016/TT-BYT và Thông tư 15/2019/TT-BYT về đấu thầu mua thuốc, cùng Thông tư 10/2016/TT-BYT và Thông tư 03/2019/TT-BYT về ưu tiên thuốc sản xuất trong nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế hồi cứu mô tả cắt ngang. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm toàn bộ 753 khoản mục thuốc tân dược được sử dụng tại đơn vị từ ngày 01/10/2019 đến ngày 31/09/2020, tương ứng 100% dữ liệu xuất nhập và thanh quyết toán thuốc. Tiêu chuẩn loại trừ áp dụng cho các vị thuốc y học cổ truyền và thuốc tự pha chế. Lý do lựa chọn toàn bộ mẫu là nhằm phản ánh chính xác bức tranh toàn cảnh về dòng tiền và cơ cấu sử dụng thuốc trong suốt chu kỳ thực hiện hợp đồng thầu.

Dữ liệu được trích xuất từ phần mềm quản lý dược bệnh viện kết nối với hệ thống giám định bảo hiểm y tế tỉnh Đồng Tháp. Quy trình phân tích được thực hiện trên phần mềm thống kê chuyên dụng kết hợp Microsoft Excel 2013, bao gồm thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) và thống kê phân tích. Nghiên cứu sử dụng phép kiểm định Chi-square ($\chi^2$) với mức ý nghĩa thống kê $p < 0,05$ để so sánh các tỷ lệ cơ cấu và đánh giá sự khác biệt giữa các nhóm thuốc.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng giá trị sử dụng thuốc tân dược tại đơn vị trong giai đoạn 2019 – 2020 đạt hơn 8,73 tỷ đồng trải đều trên 753 khoản mục. Phân tích cơ cấu thuốc theo nhóm tác dụng dược lý ghi nhận:

  • Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn (kháng sinh) chiếm tỷ trọng số lượng lớn nhất với 132 khoản mục (17,53%) và chiếm tỷ lệ chi phí cao nhất với 21,35% tổng giá trị tiền thuốc (xấp xỉ 1,86 tỷ đồng).
  • Nhóm thuốc đường tiêu hóa đứng thứ hai về chi phí, chiếm 18,75% tổng giá trị sử dụng (khoảng 1,63 tỷ đồng) với 94 khoản mục (12,48%).
  • Nhóm hormone và thuốc tác dụng vào hệ thống nội tiết chiếm 14,13% giá trị sử dụng (51 khoản mục, chiếm 6,78%).
  • Nhóm thuốc tim mạch chiếm 12,50% giá trị sử dụng với 95 khoản mục (12,62%).
  • Nhóm thuốc hạ sốt, giảm đau, chống viêm không steroid (NSAID), điều trị gút chiếm 8,92% giá trị với 81 khoản mục (10,76%).

Về mô hình bệnh tật năm 2020 tại cơ sở, bệnh của hệ tuần hoàn chiếm tỷ lệ cao nhất với 17,5% (22.662 lượt khám), kế tiếp là bệnh hệ tiêu hóa chiếm 13,9% (17.975 lượt), bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng chiếm 11,9% (15.399 lượt) và bệnh hệ hô hấp chiếm 11,4% (14.776 lượt).

Thảo luận kết quả

Kết quả phân tích cho thấy cơ cấu sử dụng thuốc tại đơn vị cơ bản phù hợp với mô hình bệnh tật của một bệnh viện đa khoa hạng III tuyến huyện vùng biên giới. Nhóm thuốc kháng sinh và thuốc tiêu hóa chiếm tới hơn 40% tổng chi phí dược phẩm. Tỷ trọng kháng sinh chiếm 21,35% giá trị sử dụng phản ánh đặc thù bệnh lý nhiễm khuẩn tại địa phương chiếm 11,9% lượt khám, đồng thời tương đồng với các nghiên cứu tại nhiều bệnh viện công lập khác (như Bệnh viện Bạch Mai chiếm 25,4% giá trị, Bệnh viện Đa khoa Hà Tĩnh chiếm 39,88% giá trị).

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa qua biểu đồ tròn phân bổ chi phí và bảng ma trận ABC/VEN. Kết quả ma trận ABC/VEN chỉ ra rằng phần lớn ngân sách tập trung vào nhóm AE và AV (các thuốc thiết yếu và tối cần có chi phí cao). Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhóm AN (thuốc không thiết yếu chiếm chi phí cao) và một số khoản mục thuốc phối hợp đa thành phần chưa chứng minh được lợi thế vượt trội so với đơn chất. Tỷ lệ thuốc tim mạch chiếm 12,50% giá trị trong khi bệnh tuần hoàn chiếm 17,5% tổng lượt khám cho thấy việc sử dụng các thuốc generic đơn thành phần giá thành thấp đã phát huy hiệu quả tiết kiệm chi phí điều trị ngoại trú dài hạn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng sử dụng thuốc, các giải pháp can thiệp cụ thể được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý danh mục:

  • Cắt giảm và điều chỉnh nhóm thuốc AN: Hội đồng Thuốc và Điều trị phối hợp cùng Khoa Dược rà soát, loại bỏ hoặc thay thế ít nhất 15% đến 20% các khoản mục thuộc nhóm AN và các thuốc đa thành phần không cần thiết. Mục tiêu hoàn thành trong đợt xây dựng danh mục thuốc đấu thầu năm tiếp theo.
  • Tăng cường kiểm soát sử dụng kháng sinh: Thiết lập quy chế phê duyệt kháng sinh dự trữ và giám sát kê đơn đối với 132 khoản mục kháng sinh hiện có, đặt mục tiêu giảm 5% đến 8% tỷ trọng chi phí kháng sinh không hợp lý trong vòng 12 tháng do Ban Giám đốc và Dược sĩ lâm sàng chủ trì.
  • Đẩy mạnh thay thế biệt dược gốc và thuốc nhập khẩu: Triệt để chuyển đổi 100% các biệt dược gốc đã hết hạn bảo hộ sang thuốc generic nhóm 1 theo đúng tinh thần Công văn 1649/VPCP-KGVX; ưu tiên chọn thuốc sản xuất trong nước theo Thông tư 10/2016/TT-BYT và Thông tư 03/2019/TT-BYT nhằm giảm 10% đến 15% chi phí mua sắm.
  • Tối ưu hóa dự trù và theo dõi thực hiện hợp đồng thầu: Khoa Dược và Phòng Kế hoạch - Nghiệp vụ cần ứng dụng phần mềm để cảnh báo định kỳ hàng tháng, đảm bảo tỷ lệ sử dụng của từng khoản mục thuốc trúng thầu nằm trong biên độ quy định từ 80% đến 120%, tránh tình trạng thuốc trúng thầu nhưng không tiêu thụ gây tồn kho hoặc phạt vi phạm hợp đồng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và tính ứng dụng cao cho nhiều nhóm độc giả chuyên môn:

  • Hội đồng Thuốc và Điều trị cùng Ban Giám đốc bệnh viện tuyến huyện: Cung cấp khung phương pháp luận chuẩn xác để xây dựng, thẩm định và giám sát danh mục thuốc bệnh viện định kỳ hàng năm dựa trên bằng chứng và mô hình bệnh tật.
  • Dược sĩ bệnh viện và cán bộ quản lý cung ứng: Giúp nắm vững quy trình phân tích ma trận ABC/VEN, kiểm soát tồn kho thuốc nhóm A, và quản lý tỷ lệ tiêu thụ thuốc trúng thầu theo quy định pháp luật hiện hành.
  • Học viên chuyên khoa, thạc sĩ và nhà nghiên cứu ngành Tổ chức Quản lý Dược: Cung cấp tài liệu tham khảo với số liệu thực tế về phương pháp xử lý số liệu hồi cứu và mô hình phân tích kinh tế y tế tại cơ sở khám chữa bệnh công lập.
  • Cơ quan quản lý y tế và cơ quan Bảo hiểm Xã hội: Tham khảo số liệu thực chứng tại tuyến huyện vùng biên giới để xây dựng chính sách phân bổ ngân sách, thanh quyết toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế và lập kế hoạch đấu thầu thuốc tập trung hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Ma trận ABC/VEN có vai trò gì trong quản lý danh mục thuốc bệnh viện? Ma trận ABC/VEN kết hợp giữa yếu tố kinh tế (chi phí tiêu thụ) và yếu tố lâm sàng (mức độ cần thiết của thuốc). Phương pháp này giúp nhà quản lý xác định chính xác các nhóm thuốc ưu tiên mua sắm, dự trữ an toàn (nhóm AV, BV) và nhận diện các nhóm thuốc gây lãng phí ngân sách (nhóm AN) để kịp thời loại bỏ hoặc cắt giảm.

Vì sao chi phí thuốc kháng sinh chiếm tỷ trọng lớn nhất tại Trung tâm Y tế huyện Tân Hồng? Nhóm kháng sinh chiếm tới 21,35% tổng chi phí (132 khoản mục) do mô hình bệnh tật tại địa phương có tỷ lệ bệnh nhiễm khuẩn, ký sinh trùng chiếm 11,9% tổng lượt khám. Đồng thời, đặc thù khí hậu và điều kiện vệ sinh vùng biên giới làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh nhiễm trùng đường hô hấp, tiêu hóa, đòi hỏi sử dụng nhiều kháng sinh điều trị.

Việc chuyển đổi biệt dược gốc hết hạn bảo hộ sang thuốc generic mang lại lợi ích gì? Thuốc generic nhóm 1 có hoạt chất, hàm lượng, dạng bào chế và hiệu quả điều trị tương đương biệt dược gốc nhưng giá thành thấp hơn đáng kể từ 20% đến 50%. Việc chuyển đổi giúp tiết kiệm nguồn quỹ bảo hiểm y tế, giảm gánh nặng chi trả cho người bệnh mà vẫn đảm bảo an toàn điều trị.

Quy định về ngưỡng tỷ lệ sử dụng thuốc trúng thầu hiện nay như thế nào? Theo các văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu dược phẩm, cơ sở khám chữa bệnh có trách nhiệm cam kết và điều phối sử dụng số lượng thuốc trúng thầu của từng khoản mục đạt từ 80% đến 120% so với số lượng đã ký kết hợp đồng thầu, hạn chế tối đa việc thuốc trúng thầu nhưng không sử dụng.

Chính sách thông tuyến bảo hiểm y tế ảnh hưởng ra sao đến công tác dự trù danh mục thuốc? Chính sách thông tuyến làm gia tăng tần suất khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế tuyến huyện lên khoảng 20%, kéo theo sự thay đổi liên tục về số lượng bệnh nhân và cơ cấu mặt bệnh. Điều này đặt ra yêu cầu khoa Dược phải phân tích hồi cứu liên tục để dự trù sát thực tế, tránh thiếu thuốc cục bộ hoặc tồn trữ quá mức.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện cơ cấu số lượng và giá trị của 753 khoản mục thuốc tân dược với tổng kinh phí sử dụng đạt trên 8,73 tỷ đồng tại Trung tâm Y tế huyện Tân Hồng.
  • Cơ cấu sử dụng thuốc phản ánh sự tương quan hợp lý với mô hình bệnh tật, trong đó nhóm thuốc kháng sinh (chiếm 21,35% giá trị) và nhóm tiêu hóa (chiếm 18,75% giá trị) chiếm tỷ trọng chủ đạo.
  • Ứng dụng thành công phương pháp phân tích ABC, VEN và ma trận tích hợp ABC/VEN giúp phân loại rõ ràng mức độ ưu tiên lâm sàng và kinh tế của từng nhóm hoạt chất.
  • Nghiên cứu đã chỉ rõ các điểm cần cải thiện như tinh giản nhóm thuốc AN, rà soát tỷ lệ thuốc trúng thầu sử dụng dưới ngưỡng 80% và tăng cường dùng thuốc generic trong nước.
  • Các bệnh viện tuyến huyện và cơ sở y tế tương đương nên áp dụng ngay quy trình phân tích ABC/VEN định kỳ theo quý để hoàn thiện danh mục thuốc, sẵn sàng cho các kỳ đấu thầu mua sắm đạt hiệu quả kinh tế - y tế tối ưu.