Chương 1: CÁU TRÚC CỦA PHƯƠNG THỨC SO SÁNH TRONG VAN BAN LUẬT TỤC EDE 1. Tổng quan về so sánh 1. Những nội dung liên quan đến so sánh So sánh là một hoạt động để nâng cao nhận thức và tình cảm của con người. Trong sich Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, Nxb Da Nẵng, 2000.
trang 861) giải thích về phương thức hoạt động của so sánh như sau: "se sánh là nhìn vào cái này mà xem xét cdi kia để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém". Bản chất của phương thức so sánh là sự liên tưởng và mỗi quan hệ giữa cái dùng làm so sánh (cái nay) và cái đưa ra dé so sánh (cái kia). Hoạt động so sánh được thực biện trên nhiều lĩnh vực và cấp độ khác nhau. Xét trong phạm vi lĩnh vực ngôn ngữ học thì từ so sánh các hiện tượng của các ngôn ngữ khác nhau đã hình thành các bộ môn chuyên ngành: ngôn ngữ học đối chiều, ngôn ngữ học loại hình và ngôn ngữ học lịch sử.
Mỗi chuyên ngành có nội dung và phương pháp nghiên cứu khác nhau. Và đối với mỗi chuyên ngành có thé có các tang bậc so sánh khác nhau, như so sánh các đặc tính hệ thong của tir vựng, của ngữ pháp trong phạm vi cau trúc nội bộ của một ngôn ngữ. So sánh tu từ là so sánh ở cáp bậc nghĩa của từ vựng ở một hình thức ngôn bản nhat định. So sánh tu từ là một hiện tượng ngôn ngữ phô biến đói với tất cả các din tộc và mỗi dan tộc do có đặc điểm riêng về ngôn ngữ, tâm lý, văn hóa và thường cư trú ở một địa bàn nhất định, mà so sánh tu từ trong ngôn ngữ của mỗi dan tộc cũng có một số đặc điểm riêng.
Với tác phâm ngôn từ cụ thé do đặc điểm yêu cầu thê hiện nội dung chủ dé ma cũng có thé có những nét đặc thù của so sánh ở tác phâm này hay tác phẩm khác. Đi vào từng loại phong cách ngôn ngữ khác nhau cũng như trong lời nói của mỗi cá nhân hay của ngôn ngữ trong tác phẩm cụ thé, người nghiên cứu có thê phát hiện ra những đặc điềm khác nhau về phương thức hoạt động của so sánh. Phương thức hoạt động so sánh trong ngôn ngữ được thực hiện thông qua cấu trúc so sánh và quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành t6 của cầu trúc. Cau trúc so sánh gồm có bồn thành tố có quan hệ với nhau, thường được sắp xếp theo trật tự sau đây: - Thành tô được hay bị so sánh, (viết tắt TTĐ/BSS) là đỗi tượng đưa ra so sánh.
19 - Thành tổ phương diện so sánh (viết tắt TTPDSS): Phương điện của so sánh là con người. sự vật, sự việc với những đặc diém tính chat, hành động của nó. - Thành tổ quan hệ so sánh (viết tắt TTQHSS): Thành tô này thẻ hiện bằng những từ chi ý nghĩa quan hệ so sánh. - Thành tô so sánh (viết tắt TTSS) là đối tượng đưa ra dùng dé làm chuẩn cho sự so sánh.
Sơ đô về câu trúc so sánh gôm đủ bon thành tô như sau : N\u Dah - Ga\m (Han) (gam lên) (sam)(dk 15, tr.52) Nếu nhìn khái quát hơn thi cau trúc so sánh trong ngôn ngữ gôm hai về có quan hệ với nhau: Vé cẩn so sánh và về chuẩn so sánh. V can so sánh gồm có: TTD/BSS và TTPDSS; về chuẩn so sánh là TTSS, hai về này có quan hệ với nhau nhờ vào thành tổ quan hệ so sánh (TTQHSS). Sơ đồ cau trúc như sau: Về can so sánh (1) | TTQHSS Về chuẩn so sánh (II) TTD/BSS và TTPDSS TTSS Quan hệ so sánh giữa hai về có thé là đồng nhất hoặc không đồng nhất, trực tiếp hay gián tiếp. cụ thê hay trừu tượng, có thật hay không có thật v.
Tuy nhiên khi vận dụng vào ngôn ngữ nghệ thuật thì cau trúc cũng như quan hệ giữa các thành tổ, quan hệ giữa các về của cầu trúc có sự thay đổi linh hoạt; người ta có thé thay đổi vị trí giữa các thành tố, giữa các về hoặc lược bỏ một vài thành tô hoặc một về. Riêng TTSS không thé lược bỏ. nhất Bản chat quan hệ giữa các yéu tổ cia hai sơ đồ trên đây là giồng nhau, chỉ khác nhau về rên gọi của 4 yêu 16 cẩu thành. Tác giá Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà gọi yêu tổ thứ 2 là edi so sánh và yếu tổ thứ 2 là Cái được so sánh là nhằm nhắn mạnh sự khác nhau giữa hai yêu tô này, theo tác giả thì sự khác nhau dé là Cái được so sánh là cái chuẩn để so sinh, còn cát so sánh là cái dia ra để so sénh với cái chuan * Theo giáa trình phong cách hoe tiếng vids của tắc gid Dink Trong Lạc (elit biên) và Nguyễn Thái Hoà thì hình thức eúa pháp so xắnh 0 từ gốm F yeu te nÌhự sau: 1.
Cơ sử sa sánh 3. Cái duye so sank Gai Có chong hue Gong đeo cô Các chop mai Déu lượn rập ron nÌự Các nép công bạc dau (Nguyễn Tuân) Long ta Van vững nhự Kiéng ba chân (Tổ Hữu) 20 Theo cách gọi cửa chúng tôi thì yếu tò thứ I là thanh 16 so sánh (TTD/BSS) va yếu tổ thử 2 là thành tỏ so sánh (TTSS) là nhằm nhẫn mạnh tink chất quan hệ giữa cải đưa ra so sảnh và cái chuẩn để so sánh. Bởi so sánh trong ngôn nạữ thì cát đụca ra so sánh thường bao giờ cũng được hay bi so sánh. Nếu xe sánh mang lại giá trị biéu cảm chương tink thà gọi là được so sánh (VD: đẹp như tiến), nếu so sánh mang lại giá trị biểu cám âm tính thì gọi là bị so sánh (VD: xau nhựt ma) Vi vậy, với cai đưa ra so sánh thì hai tắc giá trên gọi là cái so sánh, còn chúng tôi gọi là TTĐ/8SS: cái chuẩn để so tánh hai tác giá gọi là cái được so sánh, còn chúng tôi gọi là TTSS.
Ban chấn van để là giẳng nhau, hình thức lên goi thi khác nhau. thiết phải có mặt. Đó là điều kiện bắt buộc. Không có một so sánh nào được thiếu vắng TTSS, vì đó là thành tổ chuẩn của sự so sánh, cần có dé so sánh.
Cùng không có kiểu cau trúc so sánh nào chỉ có riêng một mình TTSS, vì như thể sẽ không còn là so sánh nữa mà là ân dụ. Các thành tố khác còn lại có thé vắng mặt và người ta có thể phục hỏi dựa vào ngữ cảnh. Ching hạn: - Ami\ si ami\ mja (Mẹ như me chon) (dk 62, tr. Trường hợp này vắng TTPDSS.
Phục hỏi day đủ thành: Ami\ nga si ami\ mja (Mẹ hung hang như như mẹ chỗn) Trong so sánh bao giờ cũng có quá trình liên tưởng diễn ra từ cụ thể đến khái quát. Ví dụ: - Joh adrung lo\ hrua, ti\ tria lo\ hrô, địiê pd anei lo\ c\ué hoàng pô anăn (Ram nhà gay thì phải thay, giát sàn nát thì phái thé, (giống như) chết người này thì phải nối người khác) (dk 97. So sánh và ấn dụ là hai biện pháp tu từ đều dựa trên cơ sở liên tưởng giữa đối tượng so sánh và đối tượng đưa ra so sánh. Tuy nhiên giữa chúng có điểm khác nhau cơ bản "sø sánh đìng lỗi song song hai phan đổi tượng và phần so sánh bên cạnh nhau, ấn dụ chỉ giữ lại phần dé so sánh" [83,134].
Tiêu chí phân loại so sánh Can cứ những tiêu chí khác nhau các nhà lý luận ngôn ngữ đã có nhieu cách phân loại so sánh như sau: a) Tiêu chi trong quan giữa hai về Dựa vào sự tương quan giữa về can so sánh và vẻ chuẩn so sánh, tác giả Hữu Dat (26, 294], Nguyễn Thế Lịch [51, 63], Hoàng Kim Ngọc [62, 62] chia so sánh thành các loại: so sánh ngang bằng, so sánh hơn, so sánh kém, so sánh bác cao nhất và so sánh hỗ trợ. 21 b) Tiêu chí hiện điện các thành to của câu trúc so sánh Dựa vào sự có mặt day đủ hay thiếu vắng thành tổ của cau trúc so sánh. tác giả Nguyễn Thế Lịch [51, 67] đã phân chia thành 10 loại cau trúc so sánh (viết tắt CTSS): CTSS 1-2-3-4 (1-2-3-4 là các thành t6 của CTSS), CTSS 2-3-4, CTSS 1-3-4, CTSS 3-4, CTSS 1-2-4, CTSS 2-4, CTSS 1-4, CTSS 1-2, CTSS 4-1, CTSS 4. Dang lưu ý là theo cách phân chia này, tác giả cho rằng kiêu CTSS 1-2, mặc dù không có TTSS.
vẫn được coi là so sánh, ví dụ: "7đm hồn giá lạnh". Đồng thời theo tác giả thì kiểu CTSS 4, tức là chỉ có một về so sánh được công khai nêu ra còn về cần so sánh thi an không công khai nêu ra, ví du: “Năng lòng xót liễu vĩ hoa". Tác giả lý giải: "với so sánh chưa có hiện tượng chuyên nghĩa, từ vẫn mang nghĩa gốc: hoa van là hoa. Với an du, từ đã được dùng với chuyển nghĩa: nếu hoa được ví với người”.
c) Tiêu chí dàng hay không ding từ biếu hiện TTQHSS Căn cứ vào việc dùng hay không ding từ biểu hiện TTQHSS, tác giả Hữu Dat (26, 298] chia so sánh thành các loại: loại không có dùng từ so sánh, loại có dùng từ so sánh, so sánh ngang bằng, so sánh hơn kém vả so sánh bậc cao nhất. d) Căn cứ vào sự hiện điện hay không của TTPDSS Căn cứ vào sự hiện diện hay không hiện diện của TTPDSS, người ta chia thành so sánh nôi và so sánh chìm. So sánh nôi là so sánh có TTPDSS, so sánh chìm là so sánh vắng TTPDSS. Ví dụ: So sánh nỗi: N\u mao mô# anak, awak plei leh mao (Hắn đã có vợ con (như) đũa đã có đôi) (dk 136, tr.
151) Ví dụ so sánh chìm: Niu êa êlâo leh bo\ hang(Hắn (như) con sông đã day nước từ trước) (dk 136, tr. 153) 8) Tiêu chi giá trị so sánh Dựa vào tiêu chí giá trị biêu hiện của so sánh. các nhà nghiên cứu phân chia thành so sánh thành hai loại: so sánh lôgic và so sánh tu từ. So sánh légic thường là sự đối chiếu hai sự vật 22 (vẻ tính chat, trang thai, sự việc) A và B cùng có một dấu hiệu chung nao đấy giống nhau.
A là sự vật chưa biết. nhờ so sánh qua B ma người đọc biết A hoặc hiéu thêm về A. So sánh tu từ là sự so sánh không đồng loại, không cùng một phạm trù chung, miễn là có một nét tương đồng nào đó về mặt nhận thức hay tâm lý. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng so sánh cùng phạm trù là so sánh lôgic hay còn gọi so sánh lý luận, nó không thuộc phạm vi so sánh nghệ thuật.