CHƯƠNG 1 LỜI NÓI ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI (RATIONALE) Hiện tượng tỉnh lược trong văn bản là một hiện tượng phổ biến trong các tác phẩm như tiểu thuyết, truyện ngắn. Tuy vậy, để nắm bắt được các phương tiện liên kết từ vựng của các hiện tượng ngôn ngữ trong văn bản nói chung, đặc biệt là văn bản truyện, tiểu thuyết là một vấn đề cần được chú trọng nghiên cứu. Việc này trước hết nhằm giải mã các phương tiện liên kết từ vựng của các hình thức ngữ trực thuộc thường được sử dụng trong văn bản truyện, tiểu thuyết (Trần Ngọc Thêm, 1999) kế đến ứng dụng vào việc giải mã nội dung của các hình thức ngữ trực thuộc nhằm ứng dụng vào công tác nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh.
Dưới đây là một số ví dụ liên quan đến ngữ trực thuộc tỉnh lược. “Tôi lắc đầu ngầy ngậy.” (Nguyễn Thị Thu Huệ (2001, tr.7) Trong ví dụ trên, các từ in nghiêng đậm được Trần Ngọc Thêm (1999, tr.184- 212), Diệp Quang Ban (2009, tr. 376 - 378) định danh là ngữ trực thuộc tỉnh lược, chứa từ loại động từ ở dạng phủ định. Lý do đây là một cấu trúc được lược ngữ.
Tự thân các cấu trúc tỉnh lược này không hoàn chỉnh về cả mặt nghĩa và cấu trúc mà phải dựa vào văn bản xung quanh, đi trước hoặc đi sau để giải mã cả bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa. Trong tiếng Anh hiện tượng này cũng phổ biến, đặc biệt trong các văn bản truyện ngắn, tiểu thuyết. “There was no sound during the nights. No speech or songs.” (Không có thanh âm trong những đêm ấy.
Không có lời nói hoặc bài ca”) (Michael Ondaatje,1993, tr.6) 2 Trong ví dụ trên, hình thức ngữ trực thuộc là cụm danh từ. Tuy vậy trong quá trình học tập ngôn ngữ các hiện tượng ngôn ngữ bất quy như vậy thường ít được chú trọng, quan tâm và giải thích một cách thấu đáo - so với các cấu trúc hợp quy - về phương tiện liên kết từ vựng trong văn bản. Việc giải thích các kết cấu ngôn ngữ ấy cho người học thường dừng ở mức độ chung chung, thứ yếu, ít quan tâm trong khi hiện tượng này lại xuất hiện trong các văn bản truyện ngắn hay tiểu thuyết, những dữ liệu phục vụ, làm tài liệu cho các môn đọc, nghe, nói, dịch, phân tích văn bản v.v… Vậy nên, việc bắt gặp những ngữ trực thuộc tỉnh lược như “Không biết.” hay “No speech or songs.” trong văn bản, người đọc sẽ khó giải mã ngữ nghĩa, nếu không hiểu được tính liên kết của chúng trong văn bản. Theo nhận định trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài dựa trên lý thuyết về diễn ngôn và ngữ trực thuộc trong cả hai ngôn ngữ để giải mã những vấn đề còn thắc mắc và ứng dụng vào việc sử dụng ngôn ngữ.
Do vậy, trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu đối chiếu các Phương tiện liên kết từ vựng thông qua Ngữ trực thuộc tỉnh lược trong văn bản truyện tiếng tiếng Việt và tiếng Anh”. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU (AIMS AND OBJECTIVES) Trong báo cáo này, chúng tôi tập trung nghiên cứu so sánh, đối chiếu các phương tiện liên kết từ vựng thông qua ngữ trực thuộc tỉnh lược trong văn bản truyện tiếng Việt và tiếng Anh. Việc nghiên cứu được chúng tôi tiến hành với mục đích đầu tiên là giải mã cấu trúc, hình thức của ngữ trực thuộc tỉnh lược và tiếp theo là phân tích, xác định phương tiện liên kết của chúng với các phát ngôn trong văn bản. Kết quả nghiên cứu nhằm ứng dụng vào việc giải mã cấu trúc và chức năng liên kết văn bản của ngữ trực trực thuộc tỉnh lược nhằm ứng dụng vào công tác liên quan đến ngôn ngữ.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU (SCOPE OF STUDY) 3 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các phương tiện liên kết từ vựng thông qua ngữ trực thuộc tỉnh lược như danh từ, tính từ, động từ v.v… trong các văn bản truyện tiếng Việt và tiếng Anh. Ngữ liệu được chọn để nghiên cứu và đối chiếu là dữ liệu trong các văn bản truyện tiếng Việt và tiếng Anh. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU (RESEARCH QUESTIONS) a. Phương tiện liên kết từ vựng thông qua ngữ trực thuộc tỉnh lược trong văn bản truyện tiếng Việt là gì? b.
Phương tiện liên kết từ vựng thông qua ngữ trực thuộc tỉnh lược trong văn bản truyện tiếng Anh là gì? c. Sự tương đồng và dị biệt về phương tiện liên kết từ vựng thông qua ngữ trực thuộc tỉnh lược trong truyện ngắn tiếng Việt và tiếng Anh là gì? 1. ĐỊNH NGHĨA THUẬT NGỮ (DEFINITION OF TERMS) Liên quan đến thuật ngữ trong đề tài nghiên cứu, trong tiếng Anh Halliday M. Trong tiếng Việt, Trần Ngọc Thêm (1999) và Diệp Quang Ban (1998, 2009) sử dụng cả hai thuật ngữ “phép liên kết từ vựng” hoặc “phương tiện liên kết từ vựng”.
Theo Diệp Quang Ban (2009). Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản. Hà Nội: Nxb Giáo Dục Việt Nam, tr.381, phép liên kết từ vựng đề cập đến vấn đề lựa chọn những từ ngữ từ vựng tính đã có trước, và trên cơ sở đó làm cho câu chứa từ ngữ có trước với câu chứa từ ngữ mới được chọn này liên kết với nhau. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU (SIGNIFICANCE OF THE STUDY) 4 Việc nghiên cứu trước hết giúp chúng tôi có cơ hội hệ thống được các kiểu ngữ trực thuộc tỉnh lược, đa dạng về cấu trúc, phức hợp về các mối liên kết, tồn tại một cách sinh động trong các văn bản truyện trong cả hai ngôn ngữ.
Kế đến, việc giải mã cấu trúc nội tại cũng như mối liên kết ngoại vi của các kết cấu này để có cái nhìn xuyên suốt trên bình diện liên kết đối với cấu trúc ngữ trực thuộc tỉnh lược trong văn bản. Qua việc giải mã đặc điểm ngôn ngữ học các kiểu cấu trúc này, người nghiên cứu có kinh nghiệm hơn trong việc lĩnh hội và tiếp thu các ngữ trực thuộc tỉnh lược có dạng cấu trúc đặc thù cũng như mối liên kết phong phú trong các loại hình văn bản. Bên cạnh đó, người nghiên cứu còn được tích lũy thêm những kinh nghiệm trong việc kiến giải về mặt ngôn ngữ học một số cấu trúc hữu quan trọng các loại hình ngôn ngữ như ngôn ngữ khác như quảng cáo, ngôn ngữ biểu bảng. Việc nghiên cứu các cấu trúc ngữ trực thuộc tỉnh lược một cách hệ thống trên bình diện so sánh đối chiếu ngôn ngữ học ở mức độ nào đó, về mặt thực tiễn, sẽ có những đóng góp nhất định vào việc ứng dụng liên quan đến ngôn ngữ học văn bản.
5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN (LITERATURE REVIEW AND THEORETICAL BACKGROUND) 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (LITERATURE REVIEW) Trong những thập niên gần đây, ngữ trực thuộc tỉnh lược tỉnh lược là một trong số các đề tài nổi trội được các nhà ngôn ngữ học trên thế giới quan tâm và nghiên cứu, đặc biệt ở hai ngôn ngữ Anh và Việt. Trong Tiếng Anh, mặc dù đây hiện tượng ngôn ngữ phổ biến, thế nhưng mãi đến thập niên 70, hiện tượng ngữ trực thuộc tỉnh lược mới thật sự được các nhà ngôn ngữ học quan tâm và bàn luận. Trong cuốn “A grammar of contemporary English” (Ngữ pháp tiếng Anh đương đại) được xuất bản năm 1972, Randolph Quick cùng các đồng tác giả giới thiệu hiện tượng này chưa đến một trang (tr.715) và gọi hiện tượng ngôn ngữ này là phép tỉnh lược đơn thoại (ellipsis with same speaker).
Về sau, hiện tượng này được nhóm tác giả của Quick Randolph tiếp tục bàn luận và phân loại rõ hơn, hiện tượng ngữ trực thuộc tỉnh lược cũng được gọi tên bằng các thuật ngữ đặc trưng như (i) Lược cú trong bình luận phát thanh, (ii) Lược cú trong đơn thoại,… thuộc nhóm câu bất quy tắc (irregular sentences) trong quyển “A comprehensive grammar of English language” (Tổng luận Ngữ pháp tiếng Anh) xuất bản năm 1985 (tr. Cũng trong ấn phẩm này, lần đầu tiên hiện tượng ngữ trực thuộc tỉnh lược được nhìn nhận và giới thiệu dưới cấp độ ngữ pháp văn bản (tr.1445-1454); tuy vậy, việc giới thiệu vẫn còn mang tính sơ lược, chưa tập trung vào luận giải một cách sâu sắc mà chủ yếu dựa vào việc giải thích sự chi phối của yếu tố ngôn điệu trong việc hình thành cấu trúc ngữ trực thuộc tỉnh lược. Lâu nay hiện tượng ngữ đoạn (sentences fragments) thường bị các nhà ngữ pháp học truyền thống đánh đồng với hiện tượng câu sai ngữ pháp (ungrammatical). Để phân biệt hai hiện tượng này, nhóm tác giả của Quick Radolph đã đưa ra một khái niệm mới trên cơ sở khái niệm cũ (sentences fragments) là lược ngữ (fragment 6 elliptical sentences) và chú thích rằng “khác với ngữ đoạn thường được hình thành bằng cách sử dụng dấu ngắt câu để nhấn mạnh sự gián đoạn kịch tính (a dramatic pause for emphasis), lược ngữ được sử dụng phổ biến trong văn chương và quảng cáo”.
Đồng thời, nhóm tác giả này cũng đưa ra các ví dụ để minh họa rõ nét hơn về định nghĩa của mình như sau: - He was drunk. (Hắn ta say. Và không một đồng dính túi.) - “We have all kinds of contemporary furniture. For every room in the house.” (Chúng tôi có tất cả các loại nội thất tân tiến.
Cho từng kiểu phòng trong nhà.) Trong hai ví dụ trên, hình thức ngữ trực thuộc là tính từ và cụm giới từ. Một số nhà ngôn ngữ học khác thì nhấn mạnh đến yếu tố ngữ dụng và sự lệ thuộc vào văn bản của hiện tượng ngôn ngữ trên. Kline Charles (1977, tr.97-109) chủ yếu chứng minh rằng, kiểu cấu trúc này thường được sử dụng trong các văn bản mang tính chất trang trọng, chẳng hạn như bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ. Tufte Virginia (1971, tr.92-93) lại tập trung vào giới thiệu một số trường hợp, trong đó có cấu trúc giới ngữ (prepositional fragment) được sử dụng.
Meyer Charles (1987, tr.124) thì cho rằng: các ngữ đoạn là kết quả của việc sử dụng dấu ngắt câu để thiết lập cấu trúc mới mà nó lệ thuộc vào câu đi trước; đồng thời ông cũng đề cập đến giới ngữ như là một thành viên của câu đi liền trước nó, được sử dụng để nhấn mạnh một ý tưởng nào đó của người viết. Riêng McArthur Tom (1996, tr.837) gọi đây là kiểu câu chính tả (orthographic sentences) và cho rằng chúng có quan hệ ngữ nghĩa gắn bó với văn bản hơn so với các câu xung quanh khác và nhấn mạnh rằng, dấu ngắt câu được dùng để phản ánh tình cảm của nhà văn được gửi gắm vào tác phẩm. Một số nhà ngôn ngữ học khác thì quan tâm đến dạng cấu trúc mệnh đề phụ thuộc biệt lập (unembedded dependent clause). Crystal David và Davy Derek (1970, tr.