Mở đầu Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục đích và mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa của việc nghiên cứu và bố cục của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu Chương này cung cấp một cách tóm tắt các nghiên cứu trước đây có liên quan đến bài luận văn hiện tại. Ngoài ra chương 2 còn cung cấp nền tảng lí thuyết làm cơ sở cho việc nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này miêu tả phương pháp luận nghiên cứu, xác định mẫu, cách chọn mẫu, thu thập dữ liệu, xử lý dữ liệu, công cụ nghiên cứu, độ tin cậy và tính hiệu lực của công cụ nghiên cứu.
Chương 4, Kết quả và thảo luận Chương này phân tích các đặc điểm cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của các ĐTCK trong tiếng Việt và các ĐTCK trong tiếng Anh, tìm ra được sự khác biệt và giống nhau giữa các ĐTCK trong 2 ngôn ngữ trên ba bình diện vừa nêu. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Chương này tóm tắt kết quả nghiên cứu và đưa ra một số khuyến nghị cho việc dạy và học ĐTCK trong tiếng Việt và trong tiếng Anh. Ngoài ra, chương này còn trình bày một số đề xuất về hướng nghiên cứu tương lai liên quan đến đề tài. 6 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Động từ và cụm động từ 2. Động từ Một số nhà ngôn ngữ học có quan điểm khác nhau về động từ. “Động từ là một hình thức từ loại làm vị ngữ, hỗ trợ vị ngữ, đặt câu hỏi hoặc diễn đạt mệnh lệnh” (Huddleston, 1980, tr.1) The wind blows (Gió thổi); Trong (2.1) động từ trong câu là blows và diễn tả hành động của chủ ngữ The wind.2) He is happy (anh ấy vui vẻ); Trong (2.2) động từ is với chức năng là động từ liên kết (linking verb) kết nối chủ ngữ (he) với tính từ (happy) để diễn tả trạng thái hoặc tình trạng của chủ ngữ.3) Did he see it? (Anh ấy đã thấy nó đúng vậy không?; Trong (2.3) động từ see ở dạng nguyên mẫu do có trợ động từ "did" diễn tả hành động của chủ ngữ (he) trong câu hỏi.4) động từ Listen được sử dụng ở dạng nguyên mẫu trong thức mệnh lệnh (imperative mood) dùng để ra lệnh hoặc yêu cầu người nghe thực hiện hành động. Trong tiếng Việt, Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung (2003, tr.
90) cho rằng động từ “là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình. Ý nghĩa quá trình thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể. Đó là ý nghĩa hành động. Ý nghĩa trạng thái được khái quát hóa trong mối liên hệ với vận động của thực thể 7 trong không gian và thời gian”.
Hoàng Phê (2003, tr 397) định nghĩa động từ như sau “động từ là từ chuyên biểu thị hành động, trạng thái hay quá trình thường dùng làm vị ngữ trong câu”.5) Anh ấy chạy nhanh. Trong ví dụ trên, “chạy” là động từ đóng vai trò là vị ngữ với chức năng là diễn tả hành động của chủ ngữ (anh ấy).6) Cô ấy cảm thấy buồn. Động từ “cảm thấy” diễn tả hành động cảm nhận hay nhận thức của chủ ngữ (cô ấy) về một trạng thái, cảm xúc (buồn). Động từ “sôi” với chức năng diễn tả quá trình biến đổi của nước.
Dựa vào những định nghĩa trên, động từ trong luận văn này được hiểu như sau: - Động từ là từ chỉ cử chỉ hoặc hành động, quá trình và trạng thái. - Động từ đóng vai trò làm vị ngữ trong câu. - Động từ được xác định trong nhiều ngôn ngữ như một yếu tố thể hiện sự tương phản về thể, số, ngôi, thức, thì và dạng. Cụm động từ Theo Greenbaum và Quirk (1998), cụm động từ gồm một hoặc nhiều động từ.
Cụm động từ có thể được mô tả dưới dạng trợ động từ và động từ chính. Các động từ khiếm khuyết (may: có thể; will: sẽ, could: có thể, v.) luôn hoạt động với chức năng như một trợ động từ; các động từ (stand: đứng; do: làm; dance: múa…) luôn hoạt động như động từ chính; và ba động từ quan trọng nhất trong ngôn ngữ: “be: thì, là;, have: có, ăn; và do: làm” hoạt động với chức năng như một trợ từ hoặc như một động từ chính. “Cụm động từ hoạt động như thành phần động từ trong mệnh đề, tức là phần trung tâm nhất và không thể thiếu của mệnh đề” (tr. 61) (Verb 8 phrase operates as the verb element in a clause, ie as the most central and indispensable part of the clause” (tr.
Huddleston (1980) phát biểu " Cụm động từ bao gồm một yếu tố trung tâm, bắt buộc trừ trường hợp tỉnh lược, và có thể có một hoặc nhiều thành phần phụ thuộc ”(tr. (The verb phrase consists of a head element, obligatory except in cases of ellipsis, and optionally one or more dependents” Cobuild (1990) cho rằng cụm động từ cho biết loại hành động, quá trình hoặc trạng thái đang được nói đến. Trong ngôn ngữ học, cụm động từ là một cấu trúc cú pháp bao gồm các yếu tố vị ngữ của một câu và chức năng của nó là cung cấp thông tin về chủ ngữ trong câu. Cụm động từ trong tiếng Anh có cấu trúc khác biệt đáng kể vì thông tin mà nó mang về thì, thể, thức, dạng khác biệt khá nhiều so với thông tin mà cụm danh từ thể hiện.
Cụm động từ có hai phần chức năng: a. trợ động từ, hình thái ngữ pháp mang thông tin về về thì, thể, thức, dạng và b. động từ chính, hình thái từ vựng mang thông tin từ vựng của nó và thường là một biến cách. Từ các định nghĩa được đề cập phía trên ta thấy cụm động từ trong tiếng Anh được sử dụng trong luận văn này như sau: - Cụm động từ là một cấu trúc cú pháp chứa các yếu tố vị ngữ của một câu và chức năng của nó là cung cấp thông tin về chủ đề của câu.
- Cụm động từ bao gồm trợ động từ và một động từ chính. - Cụm động từ được trình bày trên phương diện là động từ giới hạn và động từ không giới hạn. - Cụm động từ chỉ ra quá trình, hành động và trạng thái. Trong tiếng Việt, “cụm động từ là tổ hợp từ tự do không có kết từ đứng đầu, có quan hệ chính phụ giữa thành tố chính với thành tố phụ, và thành tố chính là động từ.
Cấu tạo chung của cụm động từ gồm có ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước và phần phụ sau. Ở phần trung tâm có thể gặp một động từ hoặc những tổ hợp gồm nhiều động từ”. (Diệp Quang Ban, 2006, tr. Ví dụ: “Thanh niên hãy sống, học tập và làm việc theo gương Bác Hồ kính yêu (Diệp Quang Ban, 2006, tr.
9 Phần phụ trước cụm động từ, tập hợp chủ yếu loại thành tố phụ là phụ từ chỉ mối quan hệ thời gian, tại phần phụ sau tập hợp chủ yếu các thành tố phụ thực từ mở rộng nội dung động từ - thành tố chính. Phần phụ trước của cụm động từ có tác dụng định tính mối quan hệ về thời gian và thể trạng của hành động, trạng thái nêu ở động từ thành tố chính. Phần phụ sau có tác dụng mở rộng nội dung từ vựng của động từ - thành tố chính”. (Diệp Quang Ban, 2006, tr.
Phụ từ đứng trước động từ - thành tố chính được chia ra thành các nhóm con sau: chỉ sự tiếp diễn,, tương tự của hoặt động, tráng thái (đều, cũng, vẫn, cứ, còn…), chỉ quan hệ thời gian của hoạt động, trạng thái (từng, đã, vừa, mới, đang, sẽ), chỉ tần số (thường, hay, năng, ít, hiếm), mức độ của trạng thái (rất, hơi, quá…), chỉ sự khẳng định hoặc phủ định (có, không, chưa, chẳng), chỉ ý sai khiến, khuyên nhủ (hãy đừng, chớ). Khi thành tố phụ đứng sau cụm động có hai loại đó là phụ từ và các thực từ. Theo Diệp Quang Ban (2006, tr. Phụ từ chỉ ý kết thúc (xong, rồi, đã), nhóm từ chỉ kết quả của hoạt động (được, mất, phải), chỉ sự tự lực (lấy), chỉ sự cùng chung (với, cùng), từ (nhau) chỉ sư qua lại, chỉ sự cùng chung (với, cùng), chỉ hướng (ra, vào, tới, lui, qua, lại), chỉ mức độ (lắm, quá), chỉ cách thức diễn ra trong thời gian của hoạt động, trạng thái (ngay, liền, tức khắc).
Ngoài ra, thực từ đóng một phần của thành tố cuối của cụm động từ là một danh từ (đánh đòn, làm trò), một động từ (nhìn trộm, nói leo), một tính từ (uống cạn, ăn không). (Đoàn Thiện Thuật và đồng sự.115) Tóm lại, với phần trình bày như trên, trong tiếng Việt, luận văn này đã lấy quan điểm sau đây của Diệp Quang Ban và Đoàn Thiện Thuật về cụm động từ làm cơ sở để nghiên cứu động từ cầu khiến. - Là tổ hợp từ tự do không có kết từ đứng đầu, có quan hệ chính phụ giữa thành tố chính với thành tố phụ, và thành tố chính là động từ. - Phần phụ trước cụm động từ, tập hợp chủ yếu loại thành tố phụ là phụ từ chỉ mối quan hệ thời gian, tại phần phụ sau tập hợp chủ yếu các thành tố phụ thực từ mở rộng nội dung động từ - thành tố chính.
- Thực từ đóng một phần của thành tố cuối của cụm động từ là một danh từ. Phân loại động từ 2. Phân loại động từ tiếng Anh Quirk và đồng sự (1985) đề xuất một cách phân loại chung cho các động từ tiếng Anh dựa trên tính chất cú pháp và ý nghĩa. Theo đó, động từ được chia thành hai loại chính: Động từ mang nghĩa từ vựng đầy đủ (full lexical verbs): Đây là những động từ có ý nghĩa độc lập, có thể tồn tại một mình trong một câu và thể hiện hành động, quá trình hoặc tình trạng.
Trợ động từ (auxiliary verbs): Đây là những động từ không mang ý nghĩa độc lập mà thường kết hợp với động từ mang nghĩa từ vựng đầy đủ để tạo thành các thì, thể, lượng từ, hình thức chủ ngữ, và câu hỏi. Quirk và đồng sự (1985) cũng phân loại các động từ phụ định thành hai nhóm nhỏ: Trợ động từ cơ bản (primary auxiliary verbs): Bao gồm "be," "have," và "do," được sử dụng để tạo các thì và thể trong câu. Ví dụ: "is going" (đang đi), "have seen" (đã thấy), "do play" (chơi). Trợ động từ tình thái (modal auxiliary verbs): Bao gồm "will," "can," "shall," "may," "should," "must," "might," "would," "could," "ought to," được sử dụng để thể hiện khả năng, ý chí, quan điểm, và một số giả định khác.
Ví dụ: "will go" (sẽ đi), "can swim" (có thể bơi), "should study" (nên học), "might come" (có thể đến).