phần mở đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 6 chương sau: Chƣơng 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận: Ở phần đầu của chương là tình hình nghiên cứu thành ngữ Tiếng Việt và Tiếng Anh. Phần tiếp theo là cơ sở lý luận: định nghĩa so sánh, định nghĩa thành ngữ, và cách phân biệt thành ngữ với tục ngữ và cụm từ 5 Chƣơng 3. Phƣơng pháp nghiên cứu: chương này nêu ra các phương pháp nghiên cứu của luận văn.
Các phương pháp được vận dụng là phương pháp miêu tả, phương pháp định lượng, phương pháp phân tích ngữ nghĩa và phương pháp so sánh đối chiếu. Đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ so sánh Tiếng Việt và Tiếng Anh: Trong chương này sẽ làm rõ đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ so sánh, đồng thời nêu lên sự tương đồng và khác biệt của thành ngữ so sánh ở hai ngôn ngữ. Ứng dụng của việc dạy và học ngoại ngữ thông qua thành ngữ so sánh. Thông qua thành ngữ so sánh về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa, cũng như đặc trưng văn hóa trong việc sử dụng thành ngữ so sánh nhằm giúp các em biết được những điểm giống nhau và sự khác biệt giữa ngôn ngữ đích và ngôn ngữ nguồn, đi sâu vào các hiện tượng ngôn ngữ và văn hóa khi dạy ngôn ngữ để giúp học sinh tránh được những sai sót khi sử dụng thành ngữ.
Bên cạnh đó, thành ngữ so sánh cũng giúp các cuộc trò chuyện và các bài viết trở nên sinh động và thú vị hơn Chƣơng 6. Kết luận: Nêu lại ngắn gọn kết quả của nghiên cứu. 6 Chƣơng 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU THÀNH NGỮ Thành ngữ đóng vai trò phổ biến trong mọi ngôn ngữ, trong tiếng Việt và tiếng Anh cũng không phải là ngoại lệ.
Trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ, thành ngữ đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Các nghiên cứu về thành ngữ đã đem lại nhiều phát hiện có tính thực tiễn và xây dựng nền móng cơ sở lý luận cho hiện tượng ngôn ngữ này trong nhiều ngôn ngữ khác nhau. Thành ngữ có đặc điểm là tính biểu tượng, được xây dựng dựa trên những sự vật cụ thể. Chúng có tính khái quát và biểu cảm cao, được xây dựng từ các sự vật và sự việc.
Tuy nhiên nghĩa của thành ngữ không dựa trên tính từ cấu thành nên chúng. Thành ngữ cũng mang một ý nghĩa rộng hơn, bao quát hơn và bộc lộ được sắc thái biểu cảm. Thành ngữ được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh về vần điệu, cách thức tạo nghĩa, ngữ dụng, tri kiến, khái niệm hoặc cấu trúc ngữ pháp. Bên cạnh những công trình nghiên cứu thành ngữ của một ngôn ngữ cụ thể thì cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu thành ngữ của một ngôn ngữ thông qua sự so sánh đối chiếu với thành ngữ của một hay nhiều ngôn ngữ khác.
Theo tác giả Mai Ngọc Chừ (2001) thành ngữ tiếng Việt bao gồm thành ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn dụ. Một nghiên cứu của tác giả Hoàng Văn Hành (1976) phân loại thành ngữ chi tiết hơn: thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng, thành ngữ miêu tả phi đối xứng, thành ngữ so sánh. Chung quy lại, thành ngữ so sánh được coi là một bộ phận cấu thành nên thành ngữ tiếng Việt. Tình hình nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt Từ những năm đầu trong lịch sử nghiên cứu thành ngữ, các nhà nghiên cứu tại Việt Nam đã nghiên cứu thành ngữ từ góc độ từ vựng, cấu trúc và hình thái.
Có thể nói Đỗ Hữu Châu là người tiên phong nghiên cứu đến thành ngữ. Ông cho rằng thành ngữ như một hiện tượng từ vựng, cấu trúc ngữ pháp. Theo Nguyễn Thiện 7 Giáp (2016), thành ngữ là một cụm từ mà ý nghĩa của nó không được tạo thành từ các ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó. Ngay cả khi biết nghĩa của tất cả các từ trong đó vẫn chưa thể đoán chắc nghĩa thành ngữ của cụm từ đó.
Thành ngữ có tính hoàn chỉnh về nghĩa nhưng lại có tính chất tách biệt của các thành tố trong kết cấu, do đó nó hoạt động trong câu với tư cách tương đương với một từ cá biệt, vì vậy cũng theo tác giả các câu trong tiếng Việt như: mẹ tròn con vuông, nước đổ lá khoai, chó ngáp phải ruồi, là những thành ngữ, bởi vì ý nghĩa của chúng không phải là ý nghĩa của các thành tố hợp lại theo quy tắc cú pháp. Thập niên 80, 90 của thế kỷ 20 đã có nhiều nghiên cứu thành ngữ ở Việt Nam từ góc độ ngữ nghĩa. Nghĩa của thành ngữ đã được nhắc tới như một hiện tượng đặc biệt trong ngôn ngữ. Nghĩa của thành ngữ không gắn với nghĩa gốc của từ hợp thành mà lại là một loại nghĩa có hình ảnh, nghĩa tượng trưng thông qua các hình thức diễn đạt như ẩn dụ và hoán dụ tu từ.
Đáng chú ý có thể nhắc tới các công trình nghiên cứu thành ngữ từ góc độ ngữ nghĩa như của các tác giả Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Công Đức. Những năm gần đây, ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu thành ngữ từ góc nhìn văn hóa, tư tưởng dân tộc, làm sáng tỏ nghĩa thành ngữ ở những khía cạnh khác nhau về văn hóa, quan hệ xã hội. Trương Thị Sương Mai (2012) đã có nhận xét về mối liên hệ giữa văn hóa và nghĩa thành ngữ là đặc trưng văn hóa của dân tộc không chỉ thể hiện qua những quan niệm về nhân sinh, về thế giới và kinh nghiệm đúc kết trong thành ngữ tục ngữ mà còn thể hiện thông qua những hình ảnh biểu trưng, những tính chất sắc thái của hình ảnh mang biểu tượng. Tình hình nghiên cứu thành ngữ tiếng Anh Đầu thế kỷ 21, nghiên cứu của Moon (2005) cho rằng thành ngữ tiếng Anh như một hiện tượng từ vựng.
Nghiên cứu này thống nhất trên quan điểm cho rằng năng lực hiểu và sử dụng tốt các thành ngữ mới là chìa khỏa cho việc sử dụng thông thạo ngôn ngữ như người bản xứ. Trên thực tế, Fernando (1996) cũng đã từng nói rằng dịch giả hoặc giáo viên ngôn ngữ nào nếu muốn sử dụng ngôn ngữ mục tiêu một cách tự nhiên thì không thể lờ đi các thành ngữ hoặc đặc tính thành ngữ. Những 8 nghiên cứu sau này đã chuyển hướng sang nghiên cứu thành ngữ với các khía cạnh ngữ dụng, giao tiếp, và ở cấp độ diễn ngôn. Nghiên cứu của Strässler (1982) trong công trình "Idioms in English: A pragmatic analysis” lại nghiên cứu thành ngữ từ góc độ ngữ dụng học.
Từ góc độ ngữ dụng học, Strässler (1982) cho rằng thành ngữ được sử dụng nhằm truyền tải thông điệp nhiều hơn nội dung ngữ nghĩa của thành ngữ ấy. Nghiên cứu thành ngữ ở cấp độ diễn ngôn, McCarthy, & O'Dell (2002) trong cuốn “English idioms in use” phát hiện ra rằng thành ngữ có tính tương tác cao và không thể luôn luôn được xác định bằng những đặc điểm cấu tạo của chúng. Ngoài ra có rất nhiều công trình nghiên cứu về thành ngữ và tục ngữ tiếng Anh như nghiên cứu thành ngữ về cách cấu tạo, tổ chức thành ngữ theo phép ẩn dụ, chủ đề đã được thực hiện trong cuốn trong cuốn Idioms organizer: Organized by metaphor, topic and key word (Wright, J., 1999) nghiên cứu thành ngữ về cách cấu tạo, tổ chức thành ngữ theo phép ẩn dụ, chủ đề. Các nghiên cứu có sự phát triển đa dạng và phong phú, từ việc phân tích cấu trúc, ý nghĩa, xu hướng sử dụng đến tìm hiểu nguồn gốc và lịch sử hình thành của từng thành ngữ và tục ngữ.
Những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, có sự ra đời của những nghiên cứu so sánh giữa ngôn ngữ và nền văn hóa với nhau, trong đó có các nhà nghiên cứu nổi bật: Rosch, kế đến là Hofstede, Emanatian, Levin. Và sau này các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cũng quan tâm đến phương diện của đời sống, của văn hóa và tư duy dân tộc thông qua việc sử dụng thành ngữ. Tình hình nghiên cứu thành ngữ so sánh tiếng Việt và tiếng Anh Khi tìm hiểu về thành ngữ so sánh, chúng tôi quan sát thấy có rất ít công trình nghiên cứu riêng về thành ngữ so sánh mà chủ yếu nghiên cứu thành ngữ một cách tổng quát. Qua tìm kiếm chúng tôi chỉ tìm thấy rất ít bài viết cũng như nghiên cứu liên quan đến thành ngữ so sánh.
Thành ngữ so sánh được định nghĩa là một nhóm các từ cố định diễn đạt một ý tưởng bằng cách sử dụng các từ theo cách tượng trưng và nhấn mạnh, sử dụng các từ “như”, “tày”, “bằng”. để mô tả một sự vật, hiện tượng 9 bằng cách so sánh nó với một sự vật, hiện tượng khác. Thành ngữ so sánh là một cụm từ bền vững, được hình thành từ phép so sánh và thường có nghĩa biểu trưng. Tương tự, trong Tiếng Anh chúng tôi chỉ tìm thấy chỉ có một bài báo duy nhất “ The simile visual modelling environment” (Massheler, 2003) Như vậy, có rất ít công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu thành ngữ so sánh trong tiếng Việt và tiếng Anh.
Luận văn này không phải là công trình nghiên cứu đầu tiên về thành ngữ so sánh, mà công trình nghiên cứu có tính kế thừa những đề tài đi trước để nghiên cứu cụ thể và đầy đủ hơn những thành ngữ so sánh trong tiếng Việt đối chiếu với tiếng Anh về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa. Khái quát về so sánh 2. Khái niệm Thuật ngữ "so sánh" được các nhà ngôn ngữ học định nghĩa một cách rõ ràng. So sánh là để đánh giá hoặc xem xét hai hay nhiều người hoặc sự vật, hiện tượng để xem chúng giống nhau và khác nhau như thế nào.
Ở Việt Nam, so sánh là nhìn vào cái này mà so sánh cái nọ để tìm sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém. Trong giáo trình Việt ngữ, Đinh Trọng Lạc (1964) lại cho rằng so sánh là mô tả sự vật, hiện tượng hoặc khái niệm trong ngôn ngữ nghệ thuật bằng cách so sánh chúng với hiện tượng hoặc khái niệm có cùng đặc điểm chung. Mục đích so sánh là nhằm cụ thể hoá những sự vật ấy, giúp người ta dễ hình dung, dễ hiểu hơn. Quan niệm này đã chỉ ra được mục đích của so sánh nhưng lại chỉ hạn chế đối tượng so sánh thẩm mỹ.