CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm ngữ dụng học Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về ngữ dụng học vì những vấn đề về đối tượng, phạm vi nghiên cứu của ngữ dụng học vẫn chưa được thống nhất như: Theo Morris, kí hiệu học gồm có 3 ngành: kết học, nghĩa học và dụng học. Trong đó, kết học nghiên cứu thuộc tính hình thức của các cấu trúc kí hiệu, của sự kết hợp các ký hiệu để thành các thông điệp, mối quan hệ giữa các kí hiệu. Nghĩa học nghiên cứu mối quan hệ giữa các kí hiệu với thế giới hiện thực, nghĩa là giữa kí hiệu và cái được biểu đạt.
Dụng học nghiên cứu mối quan hệ giữa kí hiệu và sự giải thích chúng, sự giải thích về ý nghĩa mà kí hiệu đã được dùng. Đó có thể nói là định nghĩa đầu tiên về ngữ dụng học. Như vậy, theo quan điểm này, “phương diện ngữ dụng của hoạt động ngôn ngữ là những đặc điểm về việc dùng ngôn ngữ (những nguyên cứ, động thái tâm lý của các bên giao tiếp, những kiểu diễn từ đã được xã hội hóa, những đối tượng của diễn từ…)” (Dubois, 1993) A. Récanati đã định nghĩa “Ngữ dụng học nghiên cứu việc dùng ngôn ngữ trong diễn từ và các chỉ hiệu đặc thù trong ngôn ngữ, những cái làm nên cách thức nói năng”.
Định nghĩa trên cho thấy vấn đề cơ bản mà dụng học quan tâm là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và diễn từ, là sự phát ngôn. Nghĩa là nó quan tâm tới quá trình tạo ra diễn từ và kết quả của chúng. Điều này cho thấy một hành động kí hiệu nói chung và sự phát ngôn nói riêng có thể giải thích khác nhau tùy theo tình huống của kí hiệu đó, hay nói cách khác chính là ngữ cảnh của kí hiệu đó. “Ngữ dụng học đề cập đến mọi yếu tố con người trong quá trình giao tiếp như tâm lý, sinh lý và xã hội” (Fasold, 1990).
“Ngữ dụng học nghiên cứu những quan hệ giữa ngôn ngữ và ngôn cảnh đã được ngữ pháp hóa hoặc được mã hóa trong cấu trúc của một ngôn ngữ” (Levinson, 1983). “Ngữ dụng học là khoa học nghiên cứu về những điều kiện sử dụng ngôn ngữ tự nhiên như là những yếu tố được chế định bởi ngữ cảnh xã hội” (Mey, 1993). Theo Nguyễn Thiện Giáp (2000) Ngữ dụng học (linguistic pragmatics) là bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, tức là cách sử dụng ngôn ngữ trong những ngữ cảnh cụ thể để đạt được những 6 mục đích cụ thể. Ngữ dụng học là chú trọng đến người phân tích lý giải ngôn ngữ trong từng ngữ cảnh cụ thể.
Tức là ngữ dụng học nghiên cứu về hành vi của người sử dụng ký hiệu ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp thực tế. Theo Skinner (1957), “Ngữ cảnh” nằm trong mối quan hệ bổ sung với “hành vi ngôn ngữ”. Sự tương tác giữa hai khái niệm này tạo thành cốt lõi của các công trình nghiên cứu ngữ dụng học. Việc trình bày các quy tắc của sự tương tác này cũng là nhiệm vụ chính của ngữ dụng học, bởi vì ngôn ngữ được đặt trong nhiều mối quan hệ trong đời sống của con người.
Các thành tố giao tiếp 1. Nhân vật giao tiếp Theo Đại cương ngôn ngữ học của GS.TS Đỗ Hữu Châu, nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau. Đó là những người tương tác bằng ngôn ngữ, giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân. Trong một cuộc giao tiếp có sự phân vai: Vai phát ra diễn ngôn tức là vai nói (viết), kí hiệu bằng Sp1 (speaker 1) và vai tiếp nhận diễn ngôn, tức nghe (đọc), kí hiệu bằng Sp2 (Speaker 2).
Trong cuộc giao tiếp nói, mặt đối mặt, hai vai nói, nghe thường luân chuyển, Sp1 sau khi nói xong chuyển thành vai nghe Sp2 và ngược lại. Trong một cuộc giao tiếp bằng lời trừ thuyết ngôn, các vai giao tiếp có thể có mặt hoặc vắng mặt và tiếp ngôn hoặc đích ngôn (nói chung là người nhận) có thể ở tình trạng chủ động (có thể đáp lời ngay lời của người nói) mà cũng có thể bị động (chỉ tiếp nhận, không phản hồi tại chỗ). Quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp đối với chính sự phát, nhận trong giao tiếp. Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau.
Quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp có thể xét theo 2 trục, trục tung, là trục vị thế xã hội còn gọi là trục quyền uy (power), trục hoành là trục của quan hệ khoảng cách (distance), còn gọi là trục thân cận (solidarity). Theo trục quyền uy thì những người giao tiếp ở mức độ cao – thấp hoặc bình đẳng với nhau và quan hệ vị thế là phi đối xứng, có nghĩa là một khi đã được xác định đúng thì sẽ giữ nguyên trong quá trình giao tiếp, không thể qua thương lượng mà thay đổi vị thế. Trên trục khoảng cách các nhân vật giao tiếp có thể gần gũi mà cũng có thể xa cách nhau. Trục này có hai cực: thân tình và xa lạ với những mức độ khác nhau.
7 Thân cận là trục đối xứng, có nghĩa là trong quá trình giao tiếp nếu Sp1 dịch gần lại Sp2 thì Sp2 cũng dịch gần lại Sp1 (tất nhiên trừ trường hợp có người không cộng tác, chối từ sự biến đổi đó) và ngược lại. Qua thương lượng có thể thay đổi khoảng cách. Theo như lý thuyết ở trên, ví dụ 4 nhóm đối tượng theo mức độ thân tình đến xa lạ: Với gia đình (mức độ rất thân); Với bạn bè (mức độ thân); Với thầy giáo (mức độ quen biết); Với người không quen biết (mức độ không quen biết) Quan hệ liên cá nhân chi phối cả tiến trình giao tiếp, cả nội dung và hình thức của diễn ngôn. Trong các ngôn ngữ, đặc biệt trong tiếng Việt, xưng hô chịu áp lực rất mạnh của quan hệ liên cá nhân.
Qua xưng hô mà Sp2 nhận biết Sp1 đã xác định quan hệ vị thế và quan cận như thế nào. Mục đích giao tiếp Bất kì hoạt động nào của con người đều hướng tới một mục đích nào đó. Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh khác nhau mà mục đích giao tiếp cũng khác khau. Người ta chia mục đích giao tiếp thanh các loại cơ bản sau: - Đi thăm hỏi: Giao tiếp phổ biến nhất.
- Trao đổi thông tin: Truyền đạt những vấn đề mà một bên còn chưa biết. - Giao tiếp để động viên, để thuyết phục, để đi đến một nhận thức chung. - Giao tiếp để tạo sự tín nhiệm của người khác đối với mình. - Giao tiếp để chấm dứt hoặc phá vỡ một mối quan hệ.
Phân loại giao tiếp - Phân loại theo tính chất có 2 loại: Giao tiếp trực tiếp và giao tiếp gián tiếp - Theo tính chất giao tiếp có hai loại: Giao tiếp chính thức và giao tiếp không chính thức. - Theo số người tham gia giao tiếp có: Giao tiếp song phương, giao tiếp theo nhóm và giao tiếp xã hội. - Theo đặc điểm hoạt động có: Giao tiếp sư phạm, giao tiếp kinh doanh và giao tiếp ngoại giao. - Theo khoảng cách với đối tượng giao tiếp có: Giao tiếp ngoại giao, giao tiếp thân mật, giao tiếp tình cảm và giao tiếp rất tình cảm.
Những quan hệ cá nhân Theo quan điểm của Labov và Fanshel, sự tương tác bằng lời là một hoạt động có tác dụng duy trì hay làm phương hại tới những quan hệ giữa những 8 người đối thoại trong giao tiếp. Những quan hệ cá nhân có tầm quan trọng đặc biệt trong tương tác hội thoại và được xem xét dưới 3 góc độ: quan hệ ngang, quan hệ dọc, trục hiệp đồng và trục tranh chấp. Những quan hệ này thay đổi theo các nền văn hóa và do đó thay đổi theo từng ngôn ngữ. So với các nước phương Tây, những quan hệ này ở các nước phương Đông thể hiện mạnh hơn, nhiều hơn và rõ hơn.
Nhiều tình huống quan hệ đã trở thành những nghi thức giao tiếp. Quan hệ ngang hay là quan hệ thân – sơ Quan hệ này được đặc trưng bằng yếu tố “khoảng cách”, một ẩn dụ không gian tượng trưng cho sự gần gũi hoặc xa cách trong quan hệ. Quan hệ khoảng cách có thể thay đổi và điều chỉnh trong quá trình hội thoại, từ sơ đến thân hoặc ngược lại. Chẳng hạn từ quan hệ bình thường đến quan hệ thân ái và tới quan hệ tình yêu hoặc ngược lại.
Quan hệ này thường đối xứng với nhau, nghĩa là nếu người này cảm thấy xa cách người kia thì người kia cảm thấy như vậy, tuy nhiên cũng có lúc bất đối xứng. Có nhiều dấu hiệu thể hiện quan hệ ngang - những dấu hiệu bằng lời và những dấu hiệu cử chỉ, điệu bộ và dấu hiệu kèm lời. Người nói có nhiều công cụ để lựa chọn khi muốn thể hiện những mối quan hệ này một cách thích hợp. Hệ thống đại từ, những từ nhân xưng, những từ dùng để thưa gửi… mang sắc thái quan hệ cách nhân rất rõ ràng.
Trong nhiều ngôn ngữ, có hàng loạt cặp từ phản ảnh quan hệ “tôi/anh” giữa người nói và người nghe với những sắc thái khác nhau. Trong tiếng Việt, sắc thái nghĩa của những từ tự xưng tôi – tớ – mình – tau – ông… rất khác nhau. Cách gọi người đối thoại trực tiếp với mình ông – anh – chị – cậu – cô – mày… cũng phản ánh rất rõ quan hệ thân – sơ, trọng – khinh. Chuẩn mực về quan hệ ngang thân – sơ này cũng rất khác nhau tùy ngôn ngữ, tùy dân tộc.
Cách gọi một người theo tên, theo họ, theo tên riêng, biệt hiệu… hay gọi đầy đủ cả họ và tên … cũng thể hiện mối quan hệ thân – sơ, trọng – khinh. Đề tài cuộc hội thoại cũng có thể cho biết quan hệ ngang. Những chuyện cá nhân, riêng tư thầm kín… chỉ có thể xảy ra giữa những người có quan hệ gắn bó, thân thiết. Quan hệ dọc hay là quan hệ vị thế Đây là quan hệ tôn ti xã hội, tạo thành các vị thế trên dưới xếp thành tầng bậc trên một trục dọc.Vì vậy quan hệ này được đặc trưng bằng yếu tố quyền lực.
Quan hệ vị thế có tính chất tương đối và không đối xứng.