Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu phạm trù ăn trong thành ngữ tiếng Việt từ góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận

Luận án tiến sĩ khám phá phạm trù "ăn" trong thành ngữ tiếng Việt từ góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận và liên hệ với phạm trù "meokda" trong tiếng Hàn.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

221
8
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. TIỂU DẪN

1.2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.2.1. Nghiên cứu trong nước

2. CHƯƠNG 2: CƠ CHẾ CHUYỂN DI Ý NIỆM “ĂN” TRONG TIẾNG VIỆT, CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG HÀN

3. CHƯƠNG 3: HOÁN DỤ TRI NHẬN TRONG CÁC THÀNH NGỮ CHỨA THÀNH TỐ “ĂN” CỦA TIẾNG VIỆT, CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG HÀN

4. CHƯƠNG 4: ẨN DỤ TRI NHẬN TRONG CÁC THÀNH NGỮ CHỨA THÀNH TỐ “ĂN” CỦA TIẾNG VIỆT, CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG HÀN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về phạm trù ăn trong thành ngữ tiếng Việt

Phạm trù ăn trong thành ngữ tiếng Việt không chỉ đơn thuần là hành vi tiêu thụ thực phẩm mà còn mang nhiều ý nghĩa sâu sắc hơn. Theo nghiên cứu, thành ngữ tiếng Việt chứa đựng những hình ảnh, biểu tượng phản ánh văn hóa và tư duy của người Việt. Hành vi ăn được xem như một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày, thể hiện sự tồn tại và phát triển của con người. Các thành ngữ như "ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng" hay "ăn không ngồi rồi" không chỉ mô tả hành vi mà còn phản ánh những giá trị văn hóa, xã hội. Việc nghiên cứu phạm trù ăn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận giúp làm sáng tỏ cách mà người Việt nhìn nhận và thể hiện thế giới xung quanh qua ngôn ngữ. Điều này cũng cho thấy sự phong phú và đa dạng trong cách sử dụng ngôn ngữ của người Việt, từ đó mở ra những hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực ngôn ngữ học.

II. Mối liên hệ giữa ăn trong tiếng Việt và meokda trong tiếng Hàn

Nghiên cứu mối liên hệ ngôn ngữ giữa tiếng Việttiếng Hàn thông qua phạm trù meokda cho thấy sự tương đồng và khác biệt trong cách diễn đạt và tri nhận. Cả hai ngôn ngữ đều sử dụng các thành ngữ có chứa thành tố ănmeokda để thể hiện những khía cạnh khác nhau của cuộc sống. Ví dụ, trong tiếng Hàn, meokda không chỉ đơn thuần là hành động ăn mà còn mang ý nghĩa về sự tồn tại, sự thịnh vượng. Điều này tương đồng với cách mà người Việt sử dụng ăn để biểu đạt những giá trị văn hóa như sự sung túc hay sự nhàn rỗi. Việc so sánh này không chỉ giúp làm rõ hơn về ngôn ngữ mà còn mở rộng hiểu biết về văn hóa và tư duy của hai dân tộc. Sự khác biệt trong cách sử dụng cũng phản ánh những đặc trưng văn hóa riêng biệt của mỗi quốc gia.

III. Phân tích ngữ nghĩa của thành ngữ chứa thành tố ăn

Phân tích ngữ nghĩa của các thành ngữ chứa thành tố ăn trong tiếng Việt cho thấy sự phong phú và đa dạng trong cách diễn đạt. Các thành ngữ như "ăn mày dĩ vãng" hay "ăn cơm trước kẻng" không chỉ đơn thuần mô tả hành động mà còn chứa đựng những bài học, triết lý sống. Việc nghiên cứu ngữ nghĩa thành ngữ giúp làm rõ hơn về cách mà người Việt sử dụng ngôn ngữ để phản ánh những giá trị văn hóa, xã hội. Hơn nữa, việc áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận vào phân tích này giúp làm sáng tỏ cơ chế chuyển di ý niệm trong ngôn ngữ, từ đó tạo ra những mô hình lý thuyết có giá trị cho việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong việc hiểu biết về ngôn ngữ mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc.

IV. Ẩn dụ tri nhận trong thành ngữ có chứa thành tố ăn

Ẩn dụ tri nhận trong các thành ngữ có chứa thành tố ăn thể hiện sự phong phú trong tư duy và cách nhìn nhận của người Việt. Các thành ngữ như "ăn như hổ đói" hay "ăn không ngồi rồi" không chỉ mô tả hành vi mà còn phản ánh những đặc điểm tính cách, tâm lý của con người. Việc nghiên cứu ẩn dụ tri nhận giúp làm rõ hơn về cách mà người Việt sử dụng ngôn ngữ để thể hiện những khía cạnh khác nhau của cuộc sống. Điều này cũng cho thấy sự tương đồng trong cách mà người Hàn sử dụng meokda để diễn đạt những ý tưởng tương tự. Sự tương đồng và khác biệt này không chỉ làm phong phú thêm cho kho tàng ngôn ngữ mà còn giúp hiểu rõ hơn về văn hóa và tư duy của hai dân tộc.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 tập trung vào việc trình bày các lý thuyết về thành ngữ, các lý thuyết của NNHTN và các vấn đề liên quan đến NNHTN làm cơ sở cho việc triển khai các luận điểm, các nghiên cứu ở những chương sau. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu trong nước 1. Những nghiên cứu về phạm trù “ăn” của tiếng Việt Cho đến nay, trong nước đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến từ “ăn”, có cả những công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu với tiếng nước ngoài.

Các công trình này chủ yếu tập trung nghiên cứu về từ vựng – ngữ nghĩa, ngữ pháp chức năng, ngữ nghĩa – tri nhận, phạm trù – ý niệm. Nguyễn Thị Hương (2016) trong công trình nghiên cứu “ Đối chiếu nghĩa của từ EAT trong tiếng Việt và từ ĂN trong tiếng Việt từ góc độ ngữ nghĩa” [30]. đã Ngô Minh Nguyệt (2018) trong công trình nghiên cứu “Đặc điểm của động từ ăn uống trong tiếng Hán và tiếng Việt” [40] đã chỉ ra rằng từ những động từ cơ bản là “ăn” và “uống” trong hai ngôn ngữ là tiếng Hán và tiếng Việt, đã hình thành nên nhóm từ chỉ 10 hoạt động thưởng thức món ăn, đồ uống. Nghiên cứu này tập trung vào việc làm sáng tỏ các đặc điểm định danh, các đặc trưng liên quan đến văn hóa trong các từ ngữ ẩm thực, từ đó tìm ra những nét tương đồng và khác biệt trong nền ẩm thực của hai đất nước Việt Nam và Trung Quốc.

Cùng với sự nở rộ của các công trình nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ học tri nhận, một số các công trình đi vào nghiên cứu về phạm trù “ăn” trong tiếng Việt như những ADYN và HDYN. Công trình đáng chú ý tiếp cận theo quan điểm tri nhận là nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Hợp (2015). Tác giả tập trung nghiên cứu ẩn dụ tri nhận miền “đồ ăn” trong tiếng Việt với mục đích xác lập cấu trúc ý niệm và miền ý niệm “đồ ăn”, tìm hiểu các miền đích, miền nguồn và hệ thống ánh xạ, cơ chế ánh xạ giữa các miền ý niệm, hệ thống ADTN “đồ ăn” trong tiếng Việt và qua đó là sáng tỏ các đặc trưng văn hóa của người Việt. Tác giả đã xác lập được cấu trúc miền đồ ăn gồm 5 nhóm lớn với 5 điển mẫu tương ứng là: (1) cơm – thực thể, (2) mặn- đặc điểm, (3) bát – đồ dùng, (4) đói – cảm giác, (5) ăn – hoạt động [28].

Từ đó, tác giả đã định hình được ý niệm “đồ ăn” cùng với các cơ chế chuyển nghĩa. Nguyễn Thị Hương (2017) đã vận dụng công trình nghiên cứu về phạm trù ăn uống trong ngôn ngữ của Newman (1997) để phân tích quá trình ăn uống từ hai góc độ: tác thể và bị thể. Từ góc độ tác thể, tác giả chỉ ra sự chuyển di ý niệm từ miền ý niệm ăn uống sang 2 miền ý niệm con người và miền ý niệm hiện tượng tự nhiên. Từ góc độ bị thể, tác giả chỉ ra sự chuyển di ý niệm từ miền ý niệm ăn uống sang 3 miền ý niệm khác: hiện tượng tự nhiên, đấu tranh trong tự nhiên – xã hội và hoạt động kinh tế xã hội [31].

Các công trình nghiên cứu trên đã xây dựng được một bức tranh cơ bản về miền “đồ ăn”, phạm trù “ăn uống” nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về phạm trù “ăn” trong phạm vi thành ngữ - vốn được xem là tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc trong tiếng Việt và tiếng Hàn ở bình diện NNHTN như đề tài luận án. Nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận Thành ngữ là một bộ phận quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ của mỗi quốc gia, dân tộc. Thành ngữ là sự đúc kết kinh nghiệm, là sự phản ánh ý thức và tri thức từ thế hệ này truyền sang thế hệ khác, tạo nên một kho tàng kiến thức dân gian về tự nhiên, xã hội, con người. Có thể nói rằng thành ngữ là kết tinh của tinh hoa dân tộc, chứa đựng trong nó các giá trị quan, tính cách của dân tộc.

Vì vậy, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trong nước đã bắt đầu các nghiên cứu thành ngữ từ giữa thế kỉ trước với các nghiên cứu ở bình diện cấu trúc, ngữ nghĩa học hay cú pháp học như các nghiên cứu của Cù Đình Tú (1994), Nguyễn Thiện Giáp (1996), (2009), … Tiếp đến là các nghiên cứu liên quan đến nguồn gốc ra đời và sự phát triển của thành ngữ với các tác giả tiêu biểu như Đỗ Hữu Châu (1986), Nguyễn Đức Dân (1986), Hoàng Văn Hành (1987), Nguyễn Như Ý (1992), … Tiếp sau các công trình nghiên cứu thành ngữ ở bình diện lý luận và lý thuyết, đã có những nghiên cứu ở bình diện ngôn ngữ liên văn hóa. Đó là những nghiên cứu về tính biểu trưng của thành ngữ, ví dụ nghiên cứu của Nguyễn Văn Hòa (2004). Đào Thị Hồng Quyết (2017) nghiên cứu về “đặc điểm của thành ngữ có chứa thành tố “ăn” trong tiếng Việt” [43]. Tác giả đã dựa theo ngữ nghĩa của từ “ăn” để phân loại các thành ngữ chứa thành tố “ăn” ra thành 2 nhóm chính: các thành ngữ chứa thành tố “ăn” mang nghĩa trực tiếp và các thành ngữ chứa thành tố “ăn” mang nghĩa gián tiếp.

Tác giả có nêu lên vấn đề liên quan đến đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện miếng ăn mang tính công đồng xã hội, nói lên triết lý về lối sống, phép tắc xã hội và thể hiện nghệ thuật sống. Công trình nghiên cứu có ý nghĩa trong việc thu thập được một số lượng tương đối lớn các thành ngữ chứa thành tố “ăn” trong tiếng Việt và bước đầu phân loại các thành tố dựa theo ngữ nghĩa của từ “ăn”, trên cơ sở tính đa nghĩa của từ này. Ngoài ra, một bộ phận không nhỏ các nghiên cứu về thành ngữ đang làm cho bức tranh nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt trở nên đa dạng, phong phú hơn, đó chính là các nghiên cứu thành ngữ đặt trong mối liên hệ, so sánh đối chiếu với tiếng nước 12 ngoài. Có nhiều tác giả quan tâm đến nghiên cứu thành ngữ và các thành tố, yếu tố trong thành ngữ trên bình diện ngữ nghĩa học từ vựng.

Nghiên cứu đối chiếu liên quan đến thành ngữ Việt – Hàn có thể kể đến Lê Thị Hương (2009). Dựa trên cấu trúc của thành ngữ Hàn – Việt có thành tố cấu tạo là tên gọi của động vật, tác giả đã chia ra các nhóm: cấu trúc của thành ngữ có quan hệ chính – phụ (danh từ làm trung tâm, động từ làm trung tâm, tính từ làm trung tâm, số từ làm trung tâm, ẩn từ làm trung tâm), cấu trúc thành ngữ có quan hệ chủ - vị, cấu trúc thành ngữ có quan hệ đẳng lập và các thành ngữ có cấu trúc đặc biệt khác. Dựa trên bình diện từ vựng - ngữ nghĩa, tác giả cũng đã phân tích cơ chế tạo nghĩa của các thành ngữ có quan hệ chính phụ, chủ - vị, đẳng lập, … Và cuối cùng tác giả có đối chiếu giá trị biểu trưng của động vật qua thành ngữ Hàn – Việt từ góc độ văn hóa. Theo đó, tác giả đã nêu tính biểu trưng của từng con vật đối với từng nền văn hóa, tìm ra điểm giống và khác nhau nhìn trên bình diện văn hóa [29].

Nghiên cứu này có một ý nghĩa nhất định, tạo nên một cái nhìn toàn diện về các thành ngữ Hàn – Việt có mối liên quan đến tên gọi động vật – vốn là nhóm thành ngữ chiếm một tỉ trọng không nhỏ trong kho tàng thành ngữ của cả hai dân tộc. Mạnh Trí Đông (2019) đã nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ liên quan đến “nước” của tiếng Hán và tiếng Việt. Nghiên cứu này tập trung vào ý nghĩa của “nước” đối với mỗi dân tộc, và ý nghĩa của “nước” trong các thành ngữ, tục ngữ diễn tả những ý nghĩa trừu tượng, miêu tả thực thể, miêu tả thuộc tính. Tác giả đặt “nước” trong tương quan về văn hóa dân tộc để nghiên cứu và so sánh đối chiếu.

Về mặt ngôn ngữ, nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở việc phân tích và đối chiếu các kết cấu ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ chứa từ “nước” [13]. Bên cạnh các nghiên cứu so sánh đối chiếu ở bình diện ngữ pháp, từ vựng học hay ngữ nghĩa học, gần đây xuất hiện các công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu thành ngữ hay các yếu tố, thành tố của thành ngữ được đặt ở góc nhìn của NNHTN. Dưới góc độ của NNHTN, ý nghĩa của thành ngữ mà con người tiếp nhận được chính là kết quả của quá trình con người tri nhận, thông qua ADTN, HDTN và các tri thức có tính quy ước của xã hội. Nói một cách khác, ở thành ngữ có sự tồn tại của các ý niệm, và chính các ý niệm đã giúp con người tiếp nhận thành ngữ một cách tự nhiên.

Trong đó, tác giả đưa ra các HDYN: “đôi mắt biểu trưng cho kĩ năng”, “chiếc mũi biểu trưng cho kĩ năng”, “bàn tay biểu trưng cho kĩ năng”. Ngoài HDYN liên quan đến “bàn tay” thì các ý niệm liên quan đến “đôi mắt” hay “chiếc mũi” đều không chiếm số lượng lớn trong thành ngữ ở cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt. Vì thế, nghiên cứu này có ý nghĩa đem lại một số kiến thức mới về một số thành ngữ của tiếng Anh và tiếng Việt, nhưng không có tính khái quát cao. Trần Bá Tiến (2012) trong luận án “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt” [55] của mình đã làm rõ ẩn dụ tình cảm dựa trên một số ý niệm cơ sở về định hướng không gian lên-xuống, nhiệt độ nóng-lạnh, tương tác lực kiểm soát-bị tác động và hình thể nguyên vẹn-tan vỡ, cân xứng-méo mó.

Trong đó vui là hướng lên, buồn và xấu hổ là hướng xuống. Tức giận là nhiệt độ tăng, sợ hãi là nhiệt độ giảm, yêu thương thì ấm áp, … Trong nghiên cứu, tác giả cũng cho thấy được yếu tố văn hóa đã tác động lớn tạo nên sự khác biệt ở hai ngôn ngữ. Các thành ngữ biểu thị sự giận dữ bộc lộ ra bên ngoài trong tiếng Anh phổ biến hơn trong tiếng Việt. Các thành ngữ biểu thị tâm lí tình cảm trong tiếng Anh có nhiều ẩn dụ hình ảnh liên tưởng đến xã hội công nghiệp như: tàu thuyền, máy móc,.

Trong khi đó, thành ngữ tiếng Việt thuộc nhóm này thì liên quan chủ yếu đến các bộ phận cơ thể người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu phạm trù ăn trong thành ngữ tiếng Việt và mối liên hệ với tiếng Hàn" khám phá sâu sắc cách mà các thành ngữ liên quan đến ăn uống trong tiếng Việt không chỉ phản ánh văn hóa ẩm thực mà còn thể hiện những giá trị xã hội và tâm lý của người Việt. Tác giả phân tích các thành ngữ này, chỉ ra sự tương đồng và khác biệt với các thành ngữ tương tự trong tiếng Hàn, từ đó mở ra một cái nhìn đa chiều về mối liên hệ văn hóa giữa hai dân tộc.

Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về ngôn ngữ và văn hóa của Việt Nam mà còn khuyến khích họ suy ngẫm về cách mà ngôn ngữ phản ánh đời sống hàng ngày. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo bài viết Nghiên cứu về thành ngữ có chứa các từ chỉ thời tiết trong tiếng anh và tiếng việt nhìn từ góc độ văn hóa, nơi bạn sẽ tìm thấy những phân tích tương tự về thành ngữ trong một lĩnh vực khác. Ngoài ra, bài viết Vấn đề sử dụng tục ngữ ca dao truyền thống trên báo in đương đại cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của tục ngữ trong truyền thông hiện đại. Cuối cùng, bài viết Ẩn dụ cấu trúc trong các diễn ngôn chính trị tiếng việt và tiếng anh sẽ giúp bạn hiểu thêm về cách ngôn ngữ được sử dụng trong các bối cảnh chính trị khác nhau. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn mở rộng kiến thức và khám phá thêm về ngôn ngữ và văn hóa.