Tổng quan luận án

Công trình Nghiên cứu tương đương dịch thuật các phát ngôn cầu khiến Anh - Việt (Qua so sánh nguyên bản tác phẩm "Gone with the Wind" và 2 bản dịch tiếng Việt) là luận án tiến sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu (mã số: 62 22 02 41), do nghiên cứu sinh Trần Thị Trung Hiếu thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Hồng Côn (Hà Nội, 2022).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Dịch thuật là hoạt động giao tiếp liên ngữ và liên văn hóa gắn liền với hệ thống ngôn ngữ, năng lực ngôn ngữ và khả năng ngôn hành của con người. Trong giao tiếp, các phát ngôn cầu khiến (PNCK) có đặc tính tiềm tàng nguy cơ đe dọa thể diện của người đối thoại, đòi hỏi người nói phải vận dụng linh hoạt các phương tiện ngôn ngữ để đạt hiệu quả giao tiếp. Việc chuyển dịch các PNCK từ tiếng Anh sang tiếng Việt, đặc biệt trong các tác phẩm văn học, phụ thuộc vào việc lựa chọn và xác lập loại hình tương đương dịch thuật phù hợp, đồng thời đòi hỏi người dịch phải nắm bắt nghĩa mục đích, nghĩa liên tưởng, bối cảnh lịch sử, văn hóa và sắc thái tu từ của tác phẩm.

Tại Việt Nam, thực tiễn dịch thuật văn học còn bộc lộ khoảng trống về hệ thống lý luận dịch thuật và phê bình bản dịch. Trong ba yếu tố cấu thành nền dịch thuật là dịch, biên tập và phê bình, hoạt động thực tế chủ yếu mới chỉ tập trung vào khâu dịch mà thiếu vắng khâu phê bình chuyên sâu cũng như biên tập đối chiếu với nguyên bản (theo nhận định dẫn từ Phạm Xuân Nguyên, 2014). Do đó, việc nghiên cứu đối chiếu tương đương dịch thuật đối với các PNCK trong văn bản văn học là yêu cầu cần thiết nhằm bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho ngành ngôn ngữ học đối chiếu và dịch thuật học.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 3 mục đích nghiên cứu chính:

  1. Góp phần làm sáng tỏ bản chất của tương đương dịch thuật nói chung và khả năng dịch tương đương các PNCK Anh - Việt nói riêng.
  2. Chỉ ra sự ảnh hưởng của các nhân tố ngôn ngữ và các yếu tố ngoài ngôn ngữ (hoàn cảnh sống, ngôn ngữ và văn hoá vùng miền) đối với việc lựa chọn cách dịch của dịch giả.
  3. Hỗ trợ cho việc dạy và học cách dịch các PNCK từ tiếng Anh sang tiếng Việt, góp phần nâng cao khả năng so sánh, đánh giá chất lượng bản dịch văn học Anh - Việt cho sinh viên Việt Nam học tiếng Anh.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án thực hiện 5 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, xác lập cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu, đánh giá tương đương dịch thuật các PNCK Anh - Việt và xác lập các tiêu chí để đánh giá bản dịch.
  2. Khảo sát (thống kê, phân loại) và mô tả các PNCK tiếng Anh được dùng trong nguyên bản tác phẩm "Gone with the Wind".
  3. Khảo sát cách dịch các PNCK tiếng Anh sang tiếng Việt qua các bản dịch của Dương Tường và Vũ Kim Thư.
  4. So sánh cách dịch các PNCK trong các bản dịch của Dương Tường và Vũ Kim Thư để làm rõ các điểm tương đồng và khác biệt trong cách xử lý của hai dịch giả.
  5. Tìm hiểu các nhân tố chi phối dịch tương đương và những vấn đề tồn tại trong việc dịch các PNCK Anh - Việt ở hai bản dịch hữu quan.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tương đương dịch thuật các phát ngôn cầu khiến Anh - Việt, thể hiện qua nguyên bản tác phẩm "Gone with the Wind" và hai bản dịch tiếng Việt của Dương Tường và Vũ Kim Thư.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát các PNCK chính danh và không chính danh thuộc hai nhóm: cầu khiến cạnh tranh (mức độ đe dọa thể diện cao) và cầu khiến hòa đồng (mức độ đe dọa thể diện thấp) trong toàn bộ tác phẩm. Luận án tiến hành điển cứu sâu vào tiểu nhóm Ra lệnh (Order) đại diện cho nhóm cầu khiến cạnh tranh và tiểu nhóm Rủ/Gợi ý (Suggest) đại diện cho nhóm cầu khiến hòa đồng. Bản dịch của Dương Tường được chọn làm đối tượng nghiên cứu tương đương trọng tâm, sau đó so sánh đối chiếu với bản dịch của Vũ Kim Thư.
Tiêu chí Nguyên bản Bản dịch 1 (Dương Tường - DT) Bản dịch 2 (Vũ Kim Thư - VKT)
Tên tác phẩm Gone with the Wind Cuốn theo chiều gió Cuốn theo chiều gió
Tác giả / Dịch giả Margaret Mitchell Dương Tường (Nam, miền Bắc) Vũ Kim Thư (Nữ, miền Nam)
Thời điểm xuất bản 1936 (bản in Pan Macmillan 2014) Xuất bản lần đầu 1987 (NXB Hội Nhà văn tái bản 2009) Xuất bản lần đầu trước 1975 (NXB Văn học tái bản 2016)
Quy mô ngữ liệu 833 phát ngôn cầu khiến tiếng Anh 833 phát ngôn dịch tiếng Việt tương ứng 833 phát ngôn dịch tiếng Việt tương ứng

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu lý thuyết dịch thuật và dịch thuật Anh - Việt

  • Nghiên cứu dịch thuật quốc tế: Luận án điểm lại các cột mốc lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu và dịch thuật của Resker (1950) về sự tương ứng có quy luật giữa văn bản nguồn và văn bản đích; Vinay & Darbelnet (1958) về phương pháp phân tích đối chiếu tu từ và phong cách. Các mô hình dịch thuật cấu trúc và giao tiếp được kế thừa từ Nida (1964, 1969, 1974) với khái niệm tương đương động (dynamic equivalence); Jakobson (1959) với ba loại hình dịch thuật (nội ngôn, liên ngôn, liên tín hiệu); Catford (1965) với mô hình dịch thuật tình huống dựa trên ngữ pháp phân cấp của Halliday; Svejcer (1987); Bell (1987) với mô hình chuyển hóa tâm sinh lý; Peter Newmark (1988, 1995) với việc phân chia hai khuynh hướng dịch thuật ngữ nghĩa (semantic approach) và dịch thuật giao tiếp (communicative approach); Blum-Kulka (1986), Hatim & Mason (1990, 1991), Keenan (1973), Hartmann (1980), Gutt (1991).
  • Nghiên cứu dịch thuật tại Việt Nam: Từ công trình dịch thuật lịch sử của Phan Huy Ích (1814), các nghiên cứu dịch thuật phát triển qua các công trình của Lê Quang Thiêm (1989, 2008) về lý luận đối chiếu ngôn ngữ và dịch thuật; Nguyễn Thượng Hùng (2005); Hoàng Văn Vân (2005); Nguyễn Hồng Côn (2001, 2004, 2005, 2006) về bản chất, phương pháp, thủ pháp và lỗi dịch thuật; Lê Hùng Tiến (2007); Cao Xuân Hạo (2005) với mô hình 4 giai đoạn dịch thuật; Lưu Trọng Tuấn (2008); Cấn Thị Thu Hà (2007); Nguyễn Thị Ngọc Hà; Võ Tạ Phương (2011); Kiều Phương Nga (2007); Nguyễn Thị Bích Hường (2014); Trần Thu Hiền (2009); Hoàng Công Bình (2015); Trịnh Thị Thơm (2014); Phạm Thị Thủy (2015); Trịnh Thu Hằng (2019); Đoàn Thúy Quỳnh (2019).
  • Nghiên cứu phát ngôn cầu khiến:
    • Trong tiếng Anh: Hướng ngữ pháp cấu trúc phân loại câu theo mục đích phát ngôn hoặc thức (mood) của Quirk và cộng sự (1972, 1985), Radford (1997), Sadock & Zwicky (1985), Reis (1999). Hướng ngữ dụng học xuất phát từ lý thuyết hành động ngôn từ của Austin (1962), Searle (1975) về hành vi cầu khiến gián tiếp; lý thuyết lịch sự của Brown & Levinson (1978, 1987); dự án xuyên văn hóa CCSARP của Blum-Kulka, House & Kasper (1989) phân loại 3 chiến lược cầu khiến (trực tiếp, gián tiếp quy ước, gián tiếp phi quy ước); các nghiên cứu bổ sung của Nicolas Ruytenbeekab, Ekaterina Ostashchenkoa & Mikhail Kissines (2017) và Casey M.
    • Trong tiếng Việt: Hướng ngữ pháp của Trần Trọng Kim (1940), Nguyễn Kim Thản (1964), Lê Văn Lý (1968), Diệp Quang Ban (2002), Bùi Mạnh Hùng (2011). Hướng ngữ dụng học của Hồ Lê (1989), Cao Xuân Hạo (1991), Đỗ Hữu Châu (1993), Nguyễn Thiện Giáp (1999, 2000), Nguyễn Đức Dân (2000), Nguyễn Văn Độ (1999), Nguyễn Thị Hoàng Chi (1998), Vũ Thị Thanh Hương (1999), Chu Thị Thủy An (2002), Phạm Thùy Chi (2006), Đào Thanh Lan (2010).
    • Dịch thuật PNCK Anh - Việt: Trần Chi Mai (2005), Hà Cẩm Tâm (2005), Nguyễn Thị Phương Thảo (2010), Trần Thị Phương Linh (2012), Nguyễn Huỳnh Lâm (2016). Trần Thị Kim Tuyến (2016) từng nghiên cứu tác phẩm "Gone with the Wind" nhưng chỉ tập trung vào hệ thống từ ngữ xưng hô qua bản dịch của Vũ Kim Thư.

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống về tương đương dịch thuật các PNCK trong một tác phẩm văn học tiếng Anh sang tiếng Việt dựa trên việc so sánh hai bản dịch được thực hiện bởi hai dịch giả đại diện cho hai miền địa lý (Bắc - Nam), hai giới tính (nam - nữ) và hai giai đoạn lịch sử khác nhau (trước năm 1975 và sau năm 1975), phân tích sự tương đồng và khác biệt dưới lăng kính ngữ dụng học và các yếu tố văn hóa - xã hội.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết dịch thuật và tương đương: Vận dụng lý thuyết của Peter Newmark (1995) về phương pháp dịch giao tiếp và dịch ngữ nghĩa; các cấp độ tương đương dịch thuật của Catford (1965), Nida (1964), Bell (1987) và quan điểm 4 công đoạn dịch thuật của Cao Xuân Hạo (2005). Thuật ngữ "dịch thuật" được sử dụng theo nghĩa rộng bao gồm cả quá trình và sản phẩm giao tiếp (Nguyễn Hồng Côn, 2004, 2006).
  • Lý thuyết ngữ dụng và hành động ngôn từ: Sử dụng lý thuyết hành động ngôn từ của Austin (1962) và Searle (1975), phân định hành động điều khiển (directives); lý thuyết thể diện và phép lịch sự của Brown & Levinson (1987).
  • Khung phân loại chiến lược cầu khiến (CCSARP): Kế thừa mô hình của Blum-Kulka và cộng sự (1989) kết hợp điều chỉnh để phân loại PNCK thành: trực tiếp, gián tiếp quy ước và gián tiếp phi quy ước; phân loại theo tính chất đe dọa thể diện thành nhóm PNCK cạnh tranh và nhóm PNCK hòa đồng; phân loại theo hình thức thành PNCK chính danh và PNCK không chính danh.
Hệ thống phân loại Phát ngôn Cầu khiến (PNCK) trong luận án:
1. Phân loại theo mức độ đe dọa thể diện:
   - PNCK Cạnh tranh (mức độ đe dọa thể diện cao; ví dụ điển cứu: tiểu nhóm Ra lệnh / Order)
   - PNCK Hòa đồng (mức độ đe dọa thể diện thấp; ví dụ điển cứu: tiểu nhóm Rủ, Gợi ý / Suggest)
2. Phân loại theo hình thức cấu trúc:
   - PNCK Chính danh (sử dụng cấu trúc mệnh lệnh thức, vị từ ngôn hành cầu khiến, tiểu từ cầu khiến)
   - PNCK Không chính danh (sử dụng cấu trúc câu hỏi, câu trần thuật, điều kiện, khuyết thiếu...)
3. Phân loại theo chiến lược cầu khiến (mô hình CCSARP điều chỉnh):
   - Chiến lược trực tiếp
   - Chiến lược gián tiếp quy ước
   - Chiến lược gián tiếp phi quy ước

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp miêu tả: Phân tích các đặc điểm cấu trúc cú pháp, ngữ nghĩa và chức năng dụng học của các PNCK trong văn bản nguồn (VBN) và văn bản đích (VBĐ).
  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: Khảo sát ngữ cảnh tình huống, quan hệ xã hội giữa các nhân vật khi thực hiện hành động cầu khiến.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh cấu trúc, ngữ nghĩa và hiệu lực ngôn trung giữa câu nguồn tiếng Anh và các câu dịch tiếng Việt để xác định mức độ tương đương dịch thuật.
  • Thủ pháp bổ trợ: Thủ pháp phân loại, thủ pháp thống kê ngôn ngữ (xác định tần số xuất hiện, tỷ lệ phần trăm), thủ pháp phân tích ngữ cảnh và thủ pháp phân tích ngôn ngữ học xã hội (nghiên cứu phương ngữ, văn hóa vùng miền).

Dữ liệu nghiên cứu

  • 833 phát ngôn cầu khiến tiếng Anh được trích xuất từ nguyên bản tiểu thuyết "Gone with the Wind" của Margaret Mitchell (1936, ấn bản Pan Macmillan 2014).
  • 833 phát ngôn dịch tiếng Việt tương ứng trong bản dịch của Dương Tường (Cuốn theo chiều gió, xuất bản năm 1987, NXB Hội Nhà văn tái bản năm 2009).
  • 833 phát ngôn dịch tiếng Việt tương ứng trong bản dịch của Vũ Kim Thư (Cuốn theo chiều gió, xuất bản trước 1975, NXB Văn học tái bản năm 2016).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu dịch thuật và dịch thuật Anh - Việt, đồng thời thiết lập khung lý thuyết nền tảng cho luận án. Tác giả phân tích các khái niệm cốt lõi:

  • Khái niệm dịch thuật: Làm rõ ba bình diện nghĩa của thuật ngữ (sản phẩm, quá trình, hoạt động giao tiếp).
  • Các mô hình lý thuyết dịch thuật: Mô hình chuyển dịch tâm sinh lý của Bell (Hình 1.1), mô hình dịch ngữ nghĩa và giao tiếp của Peter Newmark (Hình 1.2), mô hình thay thế văn bản theo chất liệu tình huống của Catford (Hình 1.3), và mô hình ba bước (phân tích, chuyển giao, tái cấu trúc) của E. Nida (Hình 1.4).
  • Vấn đề đối chiếu ngôn ngữ và các thang bậc tương đương dịch thuật (Bảng 1.1).
  • Hành động cầu khiến và phát ngôn cầu khiến: Phân định ranh giới giữa cách tiếp cận ngữ pháp truyền thống (phân loại câu theo mục đích phát ngôn) và cách tiếp cận ngữ dụng học (dựa vào lực ngôn trung). Luận án xác định cấu trúc phân loại nhóm Khuyến lệnh (Bảng 1.2) và tiếp thu khung phân tích CCSARP của Blum-Kulka và các cộng sự (1989).

Chương 2: Khảo sát các phát ngôn cầu khiến tiếng Anh trong nguyên bản "Gone with the Wind"

Chương này tập trung thống kê, phân loại và miêu tả 833 PNCK tiếng Anh được trích xuất từ văn bản nguồn:

  • Khảo sát tình hình sử dụng và phân loại 833 PNCK tiếng Anh theo mức độ đe dọa thể diện (Bảng 2.1), chia thành nhóm PNCK cạnh tranh và nhóm PNCK hòa đồng.
  • Phân loại theo chiến lược cầu khiến trực tiếp và gián tiếp (Bảng 2.2), và theo mô hình cấu trúc của Blum-Kulka và cộng sự (Bảng 2.3, điều chỉnh tại Bảng 2.4).
  • Thống kê các tiểu loại PNCK theo mức độ trực tiếp - gián tiếp (Bảng 2.5), tổng hợp PNCK chính danh và không chính danh (Bảng 2.6).
  • Phân loại chi tiết nhóm PNCK cạnh tranh (Bảng 2.7, Bảng 2.8) và nhóm PNCK hòa đồng không chính danh (Bảng 2.9).
  • Điển cứu cấu trúc:
    • Phân tích tiểu nhóm Ra lệnh (Order) trong nhóm cạnh tranh: khảo sát hành động lệnh (Bảng 2.10) và phân loại các tiểu nhóm mệnh lệnh thức (Bảng 2.11, Biểu đồ 2.1).
    • Phân tích tiểu nhóm Rủ/Gợi ý (Suggest) trong nhóm hòa đồng: phân loại theo động từ chính (Head-Act) (Bảng 2.12, Biểu đồ 2.2).
    • Tổng hợp số lượng và tỷ lệ các nhóm PNCK trong toàn bộ văn bản nguồn (Bảng 2.13).

Chương 3: Khảo sát cách dịch các phát ngôn cầu khiến tiếng Anh qua bản dịch của Dương Tường

Chương 3 khảo sát thực tế chuyển dịch 833 PNCK của dịch giả Dương Tường sang tiếng Việt:

  • Thiết lập cơ sở đánh giá dịch tương đương đối với các PNCK Anh - Việt trong bản dịch của Dương Tường.
  • Thống kê định lượng các phương thức dịch tương đương (Bảng 3.1) và mức độ tương đương cụ thể ở từng tiểu nhóm (Bảng 3.2).
  • Khảo sát cách chuyển dịch nhóm PNCK cạnh tranh: phân tích chi tiết cách dịch các PNCK chính danh (sử dụng động từ mệnh lệnh, tiểu từ tình thái, từ ngữ hô gọi) và không chính danh (chuyển đổi câu hỏi, câu điều kiện, câu trần thuật mang hàm ý cầu khiến).
  • Khảo sát cách chuyển dịch nhóm PNCK hòa đồng: làm rõ các phương tiện tiếng Việt được Dương Tường sử dụng như cấu trúc chúng ta hãy, ta cùng, mình đi... để duy trì tính lịch sự và giảm thiểu đe dọa thể diện.

Chương 4: So sánh và đánh giá cách dịch các phát ngôn cầu khiến tiếng Anh của Dương Tường và Vũ Kim Thư

Chương 4 tiến hành so sánh đối chiếu định lượng và định tính giữa hai bản dịch:

  • Tổng hợp bảng số liệu thống kê so sánh các cách dịch tương đương của Dương Tường (DT) và Vũ Kim Thư (VKT) (Bảng 4.1, Bảng 4.2).
  • So sánh cách dịch nhóm PNCK cạnh tranh chính danh và không chính danh thông qua điển cứu tiểu nhóm Ra lệnh (Order).
  • So sánh cách dịch nhóm PNCK hòa đồng không chính danh thông qua điển cứu tiểu nhóm Rủ/Gợi ý (Suggest).
  • Đánh giá bản dịch:
    • Dương Tường: Xu hướng bám sát cấu trúc ngữ pháp nguồn, sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực miền Bắc thời kỳ sau năm 1975, chú trọng truyền tải sắc thái ngữ cảnh và nghĩa liên tưởng.
    • Vũ Kim Thư: Xu hướng sử dụng phong cách diễn đạt tự nhiên, giàu phương ngữ Nam Bộ trước năm 1975 (các từ ngữ: nghe chưa, tui, ba, má, ráng, dỗ trẻ con...), mức độ chuyển dịch linh hoạt theo ngữ cảnh văn hóa địa phương.
    • Phân tích các nhân tố ngôn ngữ, văn hóa, không gian lịch sử và dấu ấn cá nhân của dịch giả tác động đến sự lựa chọn tương đương dịch thuật.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận

  1. Luận án vận dụng lý thuyết hành động ngôn từ, phép lịch sự ngữ dụng học và các mô hình dịch thuật vào việc phân tích, đánh giá tương đương dịch thuật các phát ngôn cầu khiến Anh - Việt trong tác phẩm văn học.
  2. Xây dựng khung phân loại và tiêu chí nhận diện, miêu tả các PNCK tiếng Anh (chính danh, không chính danh, cạnh tranh, hòa đồng) dựa trên mô hình CCSARP có điều chỉnh cho phù hợp với ngữ liệu đối chiếu Anh - Việt.
  3. Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa tương đương dịch thuật với các nhân tố ngoài ngôn ngữ như phương ngữ, bối cảnh lịch sử - xã hội và phong cách cá nhân của dịch giả.

Đóng góp mới về thực tiễn

  1. Cung cấp bộ ngữ liệu đối chiếu chi tiết gồm 833 PNCK tiếng Anh trong tác phẩm "Gone with the Wind" và các phát ngôn dịch tương ứng trong hai bản dịch tiếng Việt của Dương Tường và Vũ Kim Thư (được lập bảng và mã hóa cụ thể trong phần phụ lục).
  2. Chỉ ra các mô hình chuyển dịch tương đương, các biến thể cú pháp và tiểu từ tình thái cầu khiến tiếng Việt thường được sử dụng để tương ứng với các cấu trúc cầu khiến tiếng Anh.
  3. Cung cấp tư liệu đối chiếu phục vụ công tác giảng dạy dịch thuật Anh - Việt, biên dịch văn học và nghiên cứu ngữ dụng học đối chiếu tại các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn ngữ liệu trong phạm vi một tác phẩm văn học ("Gone with the Wind") với 833 PNCK và tập trung điển cứu sâu vào 2 tiểu nhóm tiêu biểu là Ra lệnh (Order) và Rủ/Gợi ý (Suggest); chưa thể bao quát toàn bộ các tiểu nhóm cầu khiến khác cũng như các thể loại văn bản phi hư cấu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát tương đương dịch thuật PNCK trên các thể loại văn bản khác (diễn ngôn báo chí, văn bản pháp lý, giao tiếp thường nhật); mở rộng nghiên cứu đối chiếu trên các cặp bản dịch khác để tiếp tục kiểm chứng các quy luật lựa chọn tương đương dịch thuật.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết kết hợp giữa ngữ dụng học (hành động ngôn từ, thể diện) và lý thuyết dịch thuật; tham khảo quy trình xử lý ngữ liệu đối chiếu song ngữ quy mô lớn.
  • Đối với giảng viên và sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh, Biên - Phiên dịch: Cung cấp 833 ngữ liệu đối chiếu thực tế kèm phân tích ngữ cảnh, hỗ trợ giảng dạy môn Lý thuyết dịch, Kỹ thuật dịch Anh - Việt và Ngữ dụng học đối chiếu.
  • Đối với biên dịch viên và biên tập viên xuất bản: Cung cấp cơ sở đối chiếu chất lượng bản dịch, nhận diện sự khác biệt phong cách vùng miền và kỹ thuật chuyển dịch các hành động ngôn từ có mức độ đe dọa thể diện cao.

Câu hỏi thường gặp

1. Ngữ liệu khảo sát của luận án gồm những gì?

Ngữ liệu của luận án gồm 833 phát ngôn cầu khiến tiếng Anh được trích xuất từ nguyên bản tiểu thuyết "Gone with the Wind" của Margaret Mitchell (1936, Pan Macmillan 2014) và các phát ngôn dịch tiếng Việt tương ứng trong 2 bản dịch "Cuốn theo chiều gió" của Dương Tường (1987/2009) và Vũ Kim Thư (trước 1975/2016).

2. Hai tiểu nhóm phát ngôn cầu khiến nào được chọn làm điển cứu trong luận án?

Luận án chọn điển cứu tiểu nhóm Ra lệnh (Order) đại diện cho nhóm phát ngôn cầu khiến cạnh tranh (có mức độ đe dọa thể diện cao) và tiểu nhóm Rủ/Gợi ý (Suggest) đại diện cho nhóm phát ngôn cầu khiến hòa đồng (có mức độ đe dọa thể diện thấp).

3. Vì sao luận án chọn bản dịch của Dương Tường làm đối tượng nghiên cứu tương đương chính?

Bản dịch của Dương Tường được dịch sau năm 1975 (xuất bản lần đầu năm 1987) khi đất nước đã thống nhất, sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực toàn dân và ít mang tính phương ngữ vùng miền hơn so với bản dịch trước năm 1975 của Vũ Kim Thư.

4. Khung lý thuyết phân loại chiến lược cầu khiến nào được luận án tiếp thu và điều chỉnh?

Luận án kế thừa mô hình phân loại chiến lược cầu khiến từ dự án xuyên văn hóa CCSARP (Cross-Cultural Speech Act Realization Project) của Blum-Kulka, House & Kasper (1989), kết hợp lý thuyết hành động ngôn từ của Austin (1962), Searle (1975) và lý thuyết lịch sự của Brown & Levinson (1987).

5. Sự khác biệt chính trong cách dịch của Dương Tường và Vũ Kim Thư được luận án chỉ ra là gì?

Dương Tường thể hiện phong cách dịch bám sát cấu trúc ngữ nghĩa và ngữ cảnh, sử dụng từ ngữ chuẩn mực miền Bắc thời kỳ sau năm 1975; trong khi Vũ Kim Thư sử dụng phong cách tự nhiên, linh hoạt với nhiều từ ngữ và cấu trúc mang đậm phương ngữ Nam Bộ giai đoạn trước năm 1975.


Kết luận

Luận án của tác giả Trần Thị Trung Hiếu là công trình nghiên cứu chuyên sâu về tương đương dịch thuật các phát ngôn cầu khiến Anh - Việt qua việc đối chiếu nguyên tác "Gone with the Wind" với hai bản dịch tiếng Việt của Dương Tường và Vũ Kim Thư. Thông qua việc phân tích định tính kết hợp thống kê định lượng trên 833 ngữ liệu đối chiếu, luận án đã làm rõ các chiến lược cầu khiến, các mô hình cấu trúc và mức độ tương đương dịch thuật giữa hai ngôn ngữ. Kết quả nghiên cứu khẳng định sự tác động sâu sắc của các nhân tố ngôn ngữ học xã hội, văn hóa vùng miền và phong cách cá nhân của dịch giả đến quá trình xác lập tương đương dịch thuật trong tác phẩm văn học.