phần mở đầu, kết luận, danh mục tải liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm bôn chương như sau: 13 - Chương | trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về dịch thuật và dịch thuật Anh - Việt, cơ sở lý thuyết liên quan đến dịch thuật, tương đương dịch thuật, PNCK và một số vấn đề lý thuyết khác liên quan đến đề tài nghiên cứu. - Chương 2 khảo sát và phân loại các PNCK tiếng Anh trong nguyên bản tác phẩm “Gone with the wind” theo sự khác biệt về mức độ đe doa thé diện và mức độ trực tiếp — gián tiếp. Theo đó, mỗi chiến lược với từng tiêu nhóm phát ngôn cụ thể sẽ lần lượt được thống kê, phân tích và mô tả chỉ tiết. - Chương 3 khảo sát cách dịch các PNCK tiếng Anh sang tiếng Việt qua bản dịch của DT.
Thông qua việc khảo sát cách dịch hai tiêu nhóm Ra lệnh (Order) và Rủ/ Gợi ý (Suggest) từ tiếng Anh sang tiếng Việt, luận án sẽ làm rõ những điểm giống và khác nhau trong cách dịch các PNCK giữa nguyên bản và bản dịch của DT. - Chương 4 kết hợp vừa khảo sát cách dịch sang tiếng Việt các PNCK tiếng Anh theo sự khác biệt về mức độ de doa thé điện và mức độ trực tiếp — gián tiếp qua bản dịch của VKT vừa so sánh cách dịch các PNCK này qua bản dịch của DT và VKT dé thay rõ những điểm giống nhau và khác nhau trong cách dịch PNCK tiếng Anh sang tiếng Việt của hai dịch giả. - Kết luận tóm tắt lại những nội dung chính được nghiên cứu trong luận án, những kết quả đạt được, nêu một số hạn chế của luận án và gợi ý hướng nghiên cứu trong tương lai. 14 CHUONG 1: TONG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về dịch thuật và dịch thuật Anh — Việt, xác lập cơ sở lý thuyết liên quan đến dịch thuật, tương đương dịch thuật, PNCK và một số vấn đề lý thuyết khác liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu về dịch thuật và dịch thuật Anh - Việt 1.1 Tình hình nghiên cứu về dịch thuật Đóng góp vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển thế giới, dịch thuật trở thành trung tâm bàn luận của các thế hệ dịch giả, nhà ngôn ngữ và nhà lý thuyết dịch thuật. Tuy nhiên, chỉ từ những năm 50 của thế kỷ XX, dịch thuật với tư cách là một hoạt động ngôn ngữ mới được các nhà ngôn ngữ học chú ý, và quan tâm ứng dụng các thành tựu ngôn ngữ học cho các nghiên cứu lý thuyết và hoạt động thực tiễn của mình. Trong vòng hơn nửa thế kỉ qua, thực tế nghiên cứu cho thấy, các nghiên cứu về dịch thuật trên thé giới và Việt Nam đã xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển của nhiều ngành khoa học khác nhau, đặc biệt là ngôn ngữ học, dưới sự ảnh hưởng của nhiều khuynh hướng và nhiều trường phái lý thuyết ngôn ngữ học khác nhau. Trên thế giới, ứng dụng lý thuyết ngôn ngữ học so sánh đối chiếu, không thé không ké đến công trình nghiên cứu của nhà dịch thuật Nga Resker (1950) va Vinay & Darbelnet (1958).
Resker, trong bài báo VỀ “sự tương ung có quy luật khi dich ra tiếng mẹ đ¿” (1950), đã mô tả và phân loại các tương ứng từ vựng giữa văn bản nguồn và văn bản đích thông qua phân tích đối chiếu những tương đồng và khác biệt giữa hai văn bản. Sau Resker, Darbelnet (1958) đã áp dụng phương pháp phân tích đối chiếu trong công trình nghiên cứu các đặc điểm phong cách và tu từ của văn bản nguồn và văn bản đích. Bên cạnh đó, lý thuyết ngữ pháp cải biến — tạo sinh của N. Chomsky xuất hiện vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX lần đầu tiên được nhà dịch thuật học Mỹ E.
Nida vận dụng vào các công trình nghiên cứu dịch thuật của mình. Lý thuyết dịch của Nida (1964) được phát triển với mô hình tương đương động hướng đên người đọc (reader-oriented dynamic equivalence) ở cap độ câu va 15 phân tích sâu cấu trúc của câu. Từ chức năng luận Praha, Jakobson (1959) là người đầu tiên đã đưa các nguyên lý của tín hiệu học vào nghiên cứu dịch thuật và dựa vào sự khác biệt về hệ thống tín hiệu được sử dụng, ông đã phân biệt được ba loại hình dịch thuật cơ ban là dịch nội ngôn (intralingual translation), dịch liên ngôn (interlingual translation) va dịch liên tín hiệu (intersemiotic translation). Ngoài ra, ly thuyết chức năng — hệ thống trong ngôn ngữ học có ảnh hưởng đến lý thuyết dịch thuật của các nhà dịch thuật người Anh như J.
Catford (1965) lấy lý thuyết ngữ pháp phân cấp của Halliday làm nền cho lý thuyết dịch thuật tương đương “tùy thuộc vào mức độ tương ứng giữa các đơn vị ngôn ngữ ở các cấp độ cấu trúc khác nhau”. Bên cạnh đó, vận dụng lý thuyết hoạt động giao tiếp trong dịch thuật, trong các công trình nghiên cứu dịch thuật của mình, Nida & Taber (1969) và Svejcer (1987) đã xây dựng các mô hình lý thuyết dịch, trong đó hoạt động dịch thuật được mô tả và giải thích như là một hoạt động giao tiếp liên ngữ và liên văn hóa. Và trên bình diện ngữ dụng học, có thé ké đến các công trình của Blum-Kulka (1986) và Hatim & Mason (1991). Trong các nghiên cứu này, các tác giả đã đi sâu khai thác quá trình dịch thuật, sản phẩm dịch thuật và mối quan hệ giữa chúng với hoàn cảnh giao tiếp trên các bình diện phân tích diễn ngôn.
Tuy nhiên, Keenan (1973) lại nhắn mạnh mô hình dịch thuật nên xét đến tất cả các thành phan của văn bản. Việc dịch chính xác từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích chưa đủ mà phải giữ được cách thức tương tác như trong nguyên bản. Gần đây, Hartmann (1980) và Gutt (1991) lại hướng người đọc nhiều về lý thuyết dịch văn bản, bản dịch phải đi xa hơn cấp độ văn bản, hướng đến khám phá và đạt được tính giao tiếp (communicative interaction), phải dịch được cái mà người đọc bản dịch quan tâm. Quan điểm này đã được Peter Newmark (1995) phát triển ở một góc độ cụ thể hơn.
Theo ông, điều mà lý thuyết dịch làm, là xác định các vấn dé trong dịch thuật, chỉ ra các yếu tố dé xử lý vấn dé, liệt kê các phương án dịch thuật khả thi và đề xuất phương án phù hợp nhất dé tạo nên một bản dịch chất 16 lượng nhất. Từ những phân tích trên đây, có thé nói, cách tiếp cận theo hướng giao tiếp là cách tiếp cận phổ biến nhất hiện nay trong các công trình nghiên cứu về dịch thuật trên thế giới. Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của thực tiễn dịch thuật, ngay từ những thế kỷ trước, việc nghiên cứu về dịch thuật đã thu hút sự chú ý của nhiều dịch giả, nhiều nhà văn cũng như các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, văn học. Trong lịch sử nghiên cứu về dịch thuật ở Việt Nam, Phan Huy Ích (1814) là dịch giả được đánh giá thành công nhất với bản dịch “Chinh phụ ngâm” và các bài phê bình các bản dich cùng tác phẩm trước đó.
Trong những năm đầu thế ky XX, các tác giả quan tâm nhiều hơn đến dịch thuật, đặc biệt là dịch văn học từ Hán sang Việt. Từ sau năm 1954, các dịch giả, nhà văn và nhà nghiên cứu cũng chú ý nhiều hơn đến dịch thuật, không kế dịch Hán -Việt mà cả dich từ các ngôn ngữ châu Âu sang tiéng Việt. Ngày càng nhiều các bài viết, các bài phê bình bàn luận, chia sé kinh nghiệm dịch thuật hoặc nghiên cứu bố sung thêm lý thuyết về dịch thuật còn chưa toàn diện trước đó. Các hội nghị khoa học về dịch thuật được tô chức thường xuyên hơn, trong đó nhiều công trình chuyên khảo, tập bài hoặc kỷ yếu sau hội nghị được xuất bản.
Đặc biệt, Lê Quang Thiêm (1989) lần đầu tiên đã bàn luận đến một số vấn đề về lý luận dịch thuật trong công trình “Đối chiếu các ngôn ngữ”. Mặc du những đóng góp của tác giả còn đơn giản nhưng đã gợi mở những ý tưởng đầu tiên cho việc xây dựng một bộ môn nghiên cứu về dịch thuật và lý luận dịch thuật ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong nghiên cứu dịch thuật ở Việt Nam, cho đến nay phan lớn các công trình mới chỉ dừng lại ở mức độ mô tả, đối chiếu hoặc ứng dụng. Gần đây, có rất nhiều tác phẩm nghiên cứu về dịch thuật khác được chúng tôi tổng hợp theo trình tự thời gian và làm tài liệu tham khảo cho nội dung luận án về dịch thuật nói chung, có thể kế đến như: Dịch thuật: từ lý thuyết đến thực hành (Nguyễn Thượng Hùng, 2005), Hoàng Văn Vân (2005) về bản chất và một số mô hình lý thuyết dịch thuật.
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thượng Hùng đã tông hợp tương đối về lý thuyết dịch thuật và những vấn đề liên quan đến dịch thuật nói chung và tương đương trong dịch thuật nói riêng. Nguyễn Hồng Cén cũng có nhiều đóng góp về dịch thuật như Vấn dé tương đương trong dịch thuật (2001), Cơ sở 17 ngôn ngữ học của nghiên cứu dịch thuật và bộ môn Dịch thuật học (2004), Dịch thuật: Bản chất và một số mô hình lí thuyết (2005), Lược sử về dịch thuật (2006), Lược sử về nghiên cứu dịch thuật (2006),. Ngoài ra, trong “Các phương pháp va thủ pháp dịch thuật”, Nguyễn Hồng Côn (2006) còn đề xuất và phân biệt phương pháp và thủ pháp dịch thuật, những lỗi thường gặp trong dịch thuật với những minh họa đối chiếu cụ thé tiếng Việt và một số ngôn ngữ. Hơn nữa, không thé không kế đến những đóng góp của Lê Hùng Tiến (2007) về van đề phương pháp trong dịch thuật Anh — Việt.
Lưu ý đến dịch thuật văn chương, kết quả nghiên cứu của Lưu Trọng Tuấn (2008) về “Thông tin hàm ẩn trong dịch thuật văn chương” cũng được các nhà nghiên cứu dịch thuật quan tâm và đánh giá. Nhìn chung, những đóng góp của các tác giả rất đáng ghi nhận và làm phong phú thêm cho lý thuyết dịch thuật nước nhà. Tình hình nghiên cứu dịch thuật Anh — Việt Ứng dụng các lý thuyết về dịch thuật, với tư cách là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học trong lí luận và thực tiễn, về gần đương thời, ở Việt Nam đã xuất hiện rất nhiều nghiên cứu về dịch Anh — Việt, trong đó chủ yếu là các luận án tiến si ngành ngôn ngữ học và ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu. Đây cũng là nội dung chúng tôi muốn khai thác sâu, trên cơ sở làm tài liệu tham khảo cho luận án của mình.