CHƯƠNG 1.TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÍ THUYET VE HIEN TUQNG CHUYEN MÃ 1. Tổng quan tinh hình nghiên cứu hiện tượng chuyển mã 1. Tình hình nghiên cứu hiện tượng chuyển mã trên thế giới Có thê nói lịch sử nghiên cứu về hiện tượng chuyển mã trong ngôn ngữ học được bắt đầu bằng những mô tả của nhà nhân chủng học người Mỹ là Barker năm 1947 về vấn đề lựa chọn ngôn ngữ và hiện tượng chuyển mã xuất hiện trong cộng đồng người Mỹ gốc Mexico sinh sống ở Tucson, thuộc bang Arizona (Nilep, C. Ngoài các phân tích về các mối quan hệ kinh tế-xã hội hay vị trí địa lí, trong nghiên cứu của mình, Barker còn cố gắng trả lời các câu hỏi, chăng hạn: Những người song ngữ đã lựa chọn ngôn ngữ và chuyển mã như thế nào? Có phải trong trường hợp này thì họ sử dụng tiếng mẹ đẻ, trường hợp khác thì lại sử dụng tiếng Anh hay không? Nhóm người này sẽ sử dụng hai ngôn ngữ luân phiên trong những cảnh huống nhất định mà không có nguyên nhân rõ ràng hay có một nguyên nhân cụ thé nao đó chi phối?.
Trong quá trình tìm hiểu, tác giả nhận thấy tiếng Tây Ban Nha (tiếng mẹ đẻ của người Mexico) thường được sử dụng trong các cuộc trò chuyện giữa những người bạn thân hoặc giữa các thành viên trong gia đình, còn trong các cuộc đối thoại mang tính trang trọng với những người Mỹ gốc Anh thì họ thường sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ dé giao tiếp (mặc dù cả hai bên hoàn toàn có thé tương tác được bằng tiếng Tây Ban Nha). Sau khi tiến hành phân tích, Barker nhận định sự lựa chọn ngôn ngữ là không cố định trong các tình huống không rõ ràng, các yếu tố của cả hai ngôn ngữ có thé cùng xuất hiện. Thêm vào đó, có một hiện tượng đặc thù trong giới trẻ, họ là những người có xu hướng sử dụng nhiều ngôn ngữ (da ngôn ngit-multiple languages) trong cùng một tương tác hơn là nhóm người trung niên và chính điều này có lẽ đã cấu thành một cộng đồng người ở Tucson như thé (Nilep, C. Năm 1953,Weinreich đã cho ra đời cuốn sách mang tên “Language in Contact”.
Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu quan trọng và nền tảng về hiện tượng chuyền mã trong ngôn ngữ học. Trong quá trình nghiên cứu, ngoài việc mô tả các hoạt động ngôn ngữ diễn ra trong nhiều cộng đồng người song ngữ, tác giả còn 14 dành sự quan tâm đến việc mô tả những ảnh hưởng của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ lên các ngôn ngữ. Từ đó, ông cũng đi đến kết luận cho rằng những mô tả của Barker (1947) về cộng động người song ngữ ở Tucson là chưa thật đầy đủ. Bởi lẽ, theo ông, nếu chi căn cứ vào bốn tình huống phát ngôn: thân mật, thông thường (suông sa), trang trong (lich sự) và điễn ngôn liên nhóm (inter-group discourse) dé mô tả tat cả những tổ chức cấu trúc tiềm tang của các phát ngôn song ngữ (all potential organizations of bilingual speech) thì chưa đầy đủ.
Theo ông, các nhà nghiên cứu cần nhìn nhận vấn đề này dưới góc độ của cấu trúc luận (structuralism)-tức là cần mô tả, quan sát và phân tích thói quen sử dụng các diễn ngôn song ngữ kết hợp với quá trình thụ đắc ngôn ngữ (language acquisition process), quá trình xã hội hóa ngôn ngữ (language socialization process) đang diễn ra trong các cộng đồng song ngữ (bilingual communities) (Nilep, C. Lay cam hứng từ cuốn sách “Language in Contact”ctia Weinreich (1953), Hans Vogt đã công bố một bài báo nghiên cứu về hiện tượng chuyền mã song ngữ năm 1954. Tác giả cho rằng chuyển mã, bản thân nó, có lẽ không phải là một hiện tượng ngôn ngữ học mà là một hiện tượng tâm lí học, và nguyên nhân của hiện tượng này rõ ràng là đến từ bên ngoài ngôn ngữ. Từ lập luận trên, tác giả nhận định chuyền mã không những là một hiện tượng ngôn ngữ tự nhiên mà còn là hiện tượng ngôn ngữ- xã hội phổ biến (Nilep, C.
Tiếp theo những nghiên cứu khởi đầu đó là hàng loạt các nghiên cứu khác về hiện tượng chuyển mã. Theo những gì mà chúng tôi tiếp cận được, có ba lĩnh vực liên quan đến chuyển mã được các học giả trên thé giới quan tâm, đó là: (1) Các nghiên cứu theo hướng tiếp cận tâm lí học xã hội (the social psychological approach); (2) Một số nghiên cứu đặc tính (identity) của hiện tượng chuyền mã; va (3) Hiện tượng chuyên mã và các ảnh hưởng của hiện tượng này lên các tương tác hội thoại. (1) Các nghiên cứu theo hướng tiếp cận tâm li học xã hội (the socio- psychological approach) 15 Đây là một hướng nghiên cứu được nhiều nhà nghiên cứu theo đuổi. Hai mô hình quan trọng được biết đến nhiều nhất theo hướng này là Mô hình đánh dấu và Mô hình Khung ngôn ngữ ma trận.
Tính đánh dấu (markedness) là khái niệm được các tác giả nôi tiếng thuộc trường phái ngôn ngữ học cấu trúc (structural linguistics) nhắc đến từ nửa đầu thế kỷ XX như Trubetzkoy (1939-1969); Jakobson (1979); Battistella (1990, 1996). Theo tác giả, mỗi ngôn ” ngữ trong các cộng đồng đa ngữ đều đóng một vai trò xã hội đặc biệt. Tương tác trong hội thoại là một quá trình điều chỉnh mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ giữa hai bên tham gia, và theo đó, cả của các ngôn ngữ tham gia (Myers-Scotton, 1993 [80]). Trong quá trình giao tiếp, néu mã ngôn ngữ đặc trưng của cả cộng đồng được lựa chọn và sử dụng thì điều đó có nghĩa là giữa người nói và người nghe có một mối quan hệ thân thiết.
Còn khi người nói chuyên mã sang ngôn ngữ đại diện cho quyền lực và địa vị trong cộng đồng đó thì ắt mã ngôn ngữ đó sẽ khiến mối quan hệ giữa người nói và người nghe trở lên khách sáo, xã giao và xa cách. Người giao tiếp thường vận dụng các mã ngôn ngữ này nhằm hạ thấp địa vị của người nghe hoặc khi muốn nâng cao địa vị của bản thân (Myers-Scotton, 1993 [80]). Như vậy, việc xác định ý nghĩa xã hội của việc lựa chọn mã ngôn ngữ cũng như những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng luân phiên sử dụng các mã hoàn toàn dựa vào quyền và nghĩa vụ của người tham gia hội thoại (participant rights and obligations). Đánh giá về mô hình này, Auer (1998) không đồng tình vì cho răng nó phụ thuộc quá nhiều vào những tri thức bên ngoài ngôn ngữ khi phải giả định về những gì người nói nhận thức được va tin tưởng.
Auer lập luận rằng người nghiên cứu hoàn toàn có thé giải thích được hành vi chuyển mã theo mô hình đánh dau mà không nhất thiết phải có những hiểu biết về việc sử dụng ngôn ngữ của người nói bên ngoài hội thoại ấy (nghĩa là tình huống hội thoại có chuyển mã) (Auer, P. 16 Tuy vậy, mô hình đánh dấu có lẽ vẫn là mô hình có hiệu lực và ngày càng được phát triển một cách hoàn chỉnh hon dé giải thích các động cơ dẫn đến hành vi chuyên mã. Trong các công trình nghiên cứu sau này, Myers-Scotton và các cộng sự tiếp tục cải tiễn mô hình này theo hướng phù hợp và nhất quán với các nghiên cứu hiện hành về lĩnh vực tiếp xúc ngôn ngữ (chang hạn như nghiên cứu của Myers- Scotton năm 1998; Myers-Scotton & Bolonyai năm 2001) hay tuân theo lí thuyết chuẩn ngôn ngữ (Standard theory of linguistics) của Chomsky năm 1965 trong các nghiên cứu Myers-Scotton & Jake năm 2001 va Jake, Myers-Scotton & Gross năm 2002 (Nilep, C. Mô hình khung ngôn ngữ ma tran (Matrix Language Frame model) là một mô hình rất nồi tiếng trong nghiên cứu chuyển mã ngôn ngữ.
Mô hình này cũng do Myers-Scotton đề xuất lần đầu tiên năm 1999 và được hoàn thiện thêm vào năm 2002 (Myers-Scotton 1999, 2002 [82, 83]). Trong công trình nghiên cứu của mình, tac giả đã bàn luận về các nghiên cứu đi trước liên quan đến hiện tượng chuyển mã và cho rang những nghiên cứu đi trước, do thiếu những cơ sở lí thuyết đặc hiệu nên đã có những lí giải chưa thật thoả đáng về hiện tượng này. Dựa trên những khảo sát của mình, Myers-Scotton đã đề xuất mô hình Khung ngôn ngữ ma trận (Matrix Language Frame model) như là một phương pháp cơ bản để tiếp cận sự sản sinh hiện tượng chuyên mã.Khác với các nghiên cứu trước đây là chỉ đơn thuần mô ta những biểu hiện bề mặt của hiện tượng chuyền mã, nghiên cứu của bà, do có một mô hình lí thuyết cơ động và có sức giải thích lớn, đã làm bộc lộ được bản chất bên trong và những cơ chế tương tác ngữ pháp trong cấu trúc sâu của ngôn ngữ để lí giải sự biến đổi của hai ngôn ngữ tham gia vào các phát ngôn chuyển mã. Từ khi ra đời đến nay, mô hình Khung ngôn ngữ ma trận vẫn được xem là nguyên lí trung tâm, là cơ sở lí luận quan trọng mà các nhà ngôn ngữ học áp dụng để lí giải hiện tượng chuyên mã.
(2) Một số nghiên cứu đặc tinh (identity) của hiện tượng chuyển mã Trong khi Myers-Scotton và các cộng sự nghiên cứu mô hình đánh dấu với mong muốn có thể lí giải hiện tượng chuyển mã một cách khái quát và có hệ thống thì các nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác như ngôn ngữ học nhân học (linguistic anthropology), ngôn ngữ học xã hội (sociolingusitics) và các lĩnh vực nghiên cứu 17 liên quan của ngôn ngữ học xã hội văn hóa (socioculture linguistics) cũng cung cấp những kiến thức chung về hiện tượng chuyên mã trong những văn cảnh cụ thể. Chăng hạn, các nhà dân tộc học tiêu biểu là Monica Heller (1999)-xem xét hiện tượng chuyển mã như một chiến lược giao tiếp mang tính chính trị. Tác giả lí giải rằng ngôn ngữ có xu hướng liên kết các tình huống của người nói, do đó, họ sử dụng nhiều ngôn ngữ trong cùng một cuộc giao tiếp và điều này cho phép người nói đạt được nhiều mục đích giao tiếp hơn. Do đó, người Anglophone (tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ) sinh sống ở vùng Quebec thuộc Canada thường xuyên chuyển mã Anh-Pháp nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp hàng ngày với những người trong cộng đồng, lại vừa có cơ hội đạt được một vi trí trong một doan thể nào đó do vùng nay chịu sự kiểm soát của cộng đồng Pháp ngữ.
Lich sử các nghiên cứu về hiện tượng chuyền mã trong ngôn ngữ học xã hội có lẽ bắt đầu từ công trình “Social meaning in linguistic structures” của hai tác gia Bloom và Gumperz năm 1972 (Nilep, C. Hai nhà nghiên cứu tiễn hành mô tả tiếng Na Uy và tiếng Ranamal trong cộng đồng sinh sống ở vùng Hemnesberget-gồm 1.300 người dân thuộc phía bắc của Na Uy.