Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU VÀ CƠ SỞ LY LUẬN CUA LUẬN AN Dẫn nhập Nghiên cứu hiện tượng chuyền di là một lĩnh vực lí thú đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thé giới. Hiện tượng chuyền di phản ánh mối quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ được thụ đắc. Nếu giữa hai ngôn ngữ đó có những sự giống nhau thì quá trình thụ đắc diễn ra thuận lợi hơn, và hiện tượng chuyên di tích cực thường xảy ra. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ thường cản trở quá trình thụ đắc của người học, và tạo ra hiện tượng chuyên di tiêu cực.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu hiện tượng chuyển di đã được các nhà ngôn ngữ tiến hành từ lâu với mong muốn tìm hiểu về nguyên nhân gây ra các hiện tượng chuyên di, từ đó đưa ra giải pháp nhăm khắc phục những khó khăn mà người học có thê gặp phải trong quá trình thụ đắc dé việc day và học ngôn ngữ nói chung, ngoại ngữ nói riêng, và đạt được hiệu quả cao. Tổng quan tình hình nghiên cứu về chuyển di từ vựng 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Từ lâu, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ đối với ngôn ngữ thứ hai. Các nghiên cứu được tiến hành trên nhiều bình diện như từ vựng, ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, chuyên di tiêu cực và chuyển di tích cực hay lỗi người học thường gặp phải trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai.
Hiện tượng chuyên di trên khía cạnh ngữ pháp là hiện tượng dễ nhận thấy nhất trong các sản phâm ngôn ngữ của người học. Vì thế, nó đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu. Các tác giả đã tiếp cận hiện 26 tượng chuyên di trên bình diện ngữ pháp từ nhiều hướng khác nhau như chuyên di tích cực và chuyền di tiêu cực. Chăng hạn, Chen (2020) đã nghiên cứu về hiện tượng chuyền di tích cực xảy ra trong quá trình học viên người Trung Quốc học tiếng Anh.
Tác giả đã chỉ ra rằng giữa tiếng Anh và tiếng Trung có rất nhiều sự tương đồng như về ngữ pháp. Hai ngôn ngữ cũng có sự giống nhau về ngữ pháp như đều có cấu trúc S +V, S+V+O, S+V+C+C, v. hay giống nhau ở hiện tượng đảo ngữ hoặc mệnh lệnh thức, v. Tác giả đã đưa ra kết luận rằng những điềm giống nhau về hệ thống ngữ pháp giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai giúp người học sử dụng được các hiện tượng và cấu trúc ngữ pháp trong ngôn ngữ thứ hai chính xác hơn và quá trình tiếp thu cũng diễn ra thuận lợi hơn.
Bên cạnh đó, một số nhà ngôn ngữ học lại đi sâu vào tìm hiểu các nguyên nhân và kết quả xảy ra do sự khác biệt về ngữ pháp giữa ngôn ngữ mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ 2 như Siew Yue Killingley (1967) nghiên cứu tông thé về ngữ pháp của biến thể tiếng Anh-Malaysia, S. Sridhar (1996) đã tìm hiểu một vài đặc điểm trong cách sử dụng ngữ pháp tiếng Anh của sinh viên năm cuối người Án, Senthelakshmi (1969) đã có báo cáo về những vấn đề mà người Trung Quốc gặp phải khi học các thì tiếng Anh. Irene Wong (1981) đã xem xét biến thé tiếng Anh-Malaysia (sau đây gọi tắt là tiéng Anh-Malaysia) về mặt cấu trúc dưới tác động của tiếng mẹ đẻ là tiếng Malaysia. Silva (1981) đã cung cấp cái nhìn tổng thê về quá trình đơn giản hóa tiếng Anh khi được sử dụng tại Malaysia qua nghiên cứu chuyên sâu vào động từ khuyết thiếu (modal verbs) của tiếng Anh-Malaysia và Cortes (2005) đã nghiên cứu về hiện tượng chuyền di tiêu cực thể hiện trên các văn bản viết của người Anh học tiếng Tây Ban Nha như ngôn ngữ thứ hai.
Kết quả cho thấy do tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha có sự khác biệt khá nhiều về ngữ pháp nên người học đã mac rất nhiều lỗi về thì, các cấu trúc ngữ pháp, kết hợp giới từ và động từ 27 hay trong một số cấu trúc giới từ và mạo từ. Nói chung, các nghiên cứu nói trên đều đưa ra kết luận là hiện tượng chuyên di ngữ pháp diễn ra trong quá trình người học học ngoại ngữ trên rất nhiều khía cạnh như thì, đoản ngữ, động tu,. Hiện tượng chuyền di ngữ âm cũng nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu. Có thê kể đến ở đây nghiên cứu về hiện tượng chuyền di tích cực về ngữ âm của Goldstein và Bunta (2011) đã nghiên cứu hiện tượng chuyền di tích cực và tiêu cực trong hệ thống phat âm của học viên song ngữ.
Các tác giả đã chỉ ra răng học viên song ngữ có nhiều lợi thế hơn học viên đơn ngữ khi lựa chọn kĩ năng phát âm vì có thể hiểu và sử dụng ngôn ngữ thành thạo. Dé là do học viên song ngữ đã vận dụng những hiểu biết từ ngôn ngữ mẹ đẻ sang ngôn ngữ đích. Tuy nhiên, hiện tượng chuyền di tiêu cực vẫn thu hút được sự chú ý nhiều hơn của các nhà ngôn ngữ. Miller (1976) đã nghiên cứu lỗi giao thoa trong phát âm tiếng Anh của người Việt, trong đó ông cho thấy khác biệt giữa phụ âm tiếng Anh và tiếng Việt là nguyên nhân chính gây nên các lỗi về phụ âm, tô hợp phụ âm tiếng Anh.
Ngoài ra, do tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu nên người Việt cũng mắc nhiều lỗi về trọng âm và ngữ điệu tiếng Anh. Bên cạnh đó, có thé chỉ ra một số nghiên cứu đáng chú ý khác như Jianping Luo (2014) đã đi sâu về lỗi phát âm tiếng Anh của người Trung Quốc và phát hiện họ có van dé với 3 nhóm phụ âm gồm [I] và [n], [f] và [h], cũng như phụ âm bật hơi và không bật hơi. Các tác gia của các nghiên cứu trên có cùng quan điểm khi cho rằng người học mắc lỗi phát âm là do sự giao thoa ngôn ngữ, sự khác nhau giữa hai hệ thống âm thanh và sự thê hiện bằng chữ viết không nhất quán với cách phát âm, đặc biệt là nguyên âm tiếng Anh. Đối với các nghiên cứu về từ vựng, ở châu Âu, có thé ké tới Sjöholm (1976), Palmberg (1985), Ringbom (1983), (1987) với các công trình nghiên 28 cứu hiện tượng chuyền di từ vựng xảy ra khi người Phần Lan và người Thụy Điền học tiếng Anh.
Các tác giả đưa ra kết luận là người Phan Lan học tiếng Anh mắc nhiều lỗi từ vựng hơn người Thụy Dién học tiếng Anh do từ vựng trong tiếng Anh giống tiếng Thụy Điển hơn tiếng Phần Lan. Các nghiên cứu cho thấy với hiện tượng chuyên di, đặc điểm ngữ nghĩa của một từ trong ngôn ngữ thứ hai có thể được tạo ra dựa trên mô hình của từ tương đồng trong ngôn ngữ thứ nhất. Với hiện tượng vay mượn, yếu tô từ vựng được đưa vào ngôn ngữ thứ hai theo cấu tạo được sửa đôi hoặc không sửa đôi, nhưng sẽ ở một dạng thức không tôn tại trong ngôn ngữ đó. Hiện tượng này có thé xảy ra ở mọi ngôn ngữ, ngay cả khi người học không có đủ kiến thức hiểu biết về ngôn ngữ đó, máy móc và chỉ dựa vào sự giống nhau về cấu tạo giữa các từ.
Quá trình người học học ngôn ngữ thứ hai là sự gắn các từ với các khái niệm tồn tại trong tâm trí. Người học càng đạt tới trình độ cao trong việc học ngoại ngữ thì cảng có khả năng tạo ra sự liên tưởng về mạng lưới từ vựng nhưng van sẽ rất khó hình thành nên một mạng lưới từ vựng giống người nói tiếng mẹ đẻ. Ngoài ra, không thể không nhắc tới tác giả Butler (1999). Ông đã biên soạn cuốn từ điển tiếng Anh có tên Từ điển Macquarie trong đó có nhiều từ ngữ mang đặc tính địa phương được chấp nhận ở một số nước Đông Nam A.
Trong khảo sát của mình, ông nhận thấy người Philippine phần lớn tin rằng mục từ địa phương nên được đề cập tới trong cuốn từ dién. Thái độ này khác với suy nghĩ của người Thái Lan. Tác giả đã đưa ra kết luận rằng nếu như tiếng Anh được sử dụng ngày càng nhiều trong đời sống hàng ngày thì người sử dụng có xu hướng chấp nhận sử dụng các biến thể về từ vựng nhiều hơn. Nhìn sang châu Á, kết quả nghiên cứu của Jiang (2002) đã cho thấy sự đồng nguyên của các ngôn ngữ thứ nhất và thứ hai và trực dịch sẽ tạo ra hiện tượng chuyên di tích cực, gắn dang thức của ngôn ngữ thứ hai với dạng từ của ngôn ngữ thứ nhất.
Zheng (2018), từ nghiên cứu về hiện tượng chuyên di tích 29 cực xảy ra trong quá trình học viên người Trung Quốc học tiếng Anh qua khảo sát về cách sử dụng tinh từ “good” trong tiếng Anh và “##ƒ” (hảo) trong tiếng Trung, đã rút ra kết luận rằng hiện tượng chuyên di tích cực xảy ra khi người học nhận được những chỉ dẫn và gợi ý tích cực, năm được những điểm giống nhau giữa hai ngôn ngữ và áp dụng chiến lược học phù hợp. Khi tiến hành nghiên cứu về van đề ngày, một số tác giả tập trung vào hiện tượng vay mượn (borrowing) giữa các ngôn ngữ. Có thé kế đến ở đây một số công trình như Ringbom (1983). Các nghiên cứu cho thấy người học sẽ vay mượn mục từ trong tiếng mẹ đẻ và áp dụng sang ngôn ngữ thứ hai.
Những mục từ đó có thể được chỉnh sửa hoặc không chỉnh sửa khi họ sử dụng. Vì thế, họ sẽ tạo ra những dạng thức không ton tai trong ngôn ngữ dich. Palmberg (1985) và Ringbom (1987) cũng tập trung vào hiện tượng dịch sao phỏng. Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy tiếng mẹ đẻ đã giúp cho người học hiểu được các đoạn văn trong giai đoạn đầu học tiếng Anh.
Một vấn đề chính cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm là liệu người học có mở rộng ngữ nghĩa của một từ trong ngôn ngữ thứ hai không. Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ là tiếng Thụy Điền lên cách sử dụng tiếng Anh, Jiang (2002) đã rút ra kết luận rằng đồng nguyên giữa ngôn ngữ thứ nhất và thứ hai là một trong các nguyên nhân của hiện tượng chuyên di tích cực. Bên cạnh đó, sự tương đương trong dịch thuật cũng là một yếu tố giúp người học sử dụng tiếng Anh chính xác hơn. Hiện tượng chuyền di từ vựng trong các kết hợp từ cô định cũng là một vấn đề nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu đều chỉ ra răng hiện tượng chuyền di tiêu cực sẽ dẫn đến lỗi.