Nghiên cứu ẩn dụ cấu trúc trong các diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh

Khám phá ẩn dụ cấu trúc trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh qua bình luận quốc tế trên báo Nhân Dân và The New York Times.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

304
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1. Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm

1.1.2. Tình hình nghiên cứu về diễn ngôn chính trị và ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị

1.2. Cơ sở lý thuyết về ẩn dụ ý niệm

1.2.1. Cơ sở lí luận về diễn ngôn chính trị

1.2.2. Cơ sở lí luận về so sánh đối chiếu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ CẤU TRÚC CÓ MIỀN ĐÍCH “CHÍNH TRỊ” TRONG DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

2.1. Ẩn dụ cấu trúc “CHÍNH TRỊ LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH”

2.1.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

2.1.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

2.1.3. So sánh, đối chiếu ẩn dụ cấu trúc "CHÍNH TRỊ LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH" trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh

2.2. Ẩn dụ cấu trúc “CHÍNH TRỊ LÀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG”

2.2.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

2.2.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

2.2.3. So sánh, đối chiếu ẩn dụ cấu trúc "CHÍNH TRỊ LÀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG" trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh

2.3. Ẩn dụ cấu trúc “CHÍNH TRỊ LÀ CHIẾN TRANH”

2.3.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

2.3.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

2.3.3. So sánh, đối chiếu ẩn dụ cấu trúc "CHÍNH TRỊ LÀ CHIẾN TRANH" trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh

2.4. Ẩn dụ cấu trúc “CHÍNH TRỊ LÀ NHIỆT”

2.4.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

2.4.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

2.4.3. So sánh, đối chiếu ẩn dụ cấu trúc "CHÍNH TRỊ LÀ NHIỆT" trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh

2.5. Phân tích ẩn dụ cấu trúc “CHÍNH TRỊ LÀ HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT/ TỰ NHIÊN”

2.5.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

2.5.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

2.5.3. So sánh, đối chiếu ẩn dụ cấu trúc "CHÍNH TRỊ LÀ HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT/TỰ NHIÊN" trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh

3. CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ CẤU TRÚC CÓ MIỀN ĐÍCH “QUỐC GIA” TRONG DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

3.1. Ẩn dụ cấu trúc “QUỐC GIA LÀ MỘT CON NGƯỜI”

3.1.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

3.1.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

3.1.3. So sánh, đối chiếu ẩn dụ cấu trúc "QUỐC GIA LÀ MỘT CON NGƯỜI" trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh

3.2. Ẩn dụ cấu trúc “ĐẶC ĐIỂM CỦA QUỐC GIA LÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CON NGƯỜI”

3.2.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

3.2.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

3.2.3. So sánh ẩn dụ cấu trúc "ĐẶC ĐIỂM CỦA QUỐC GIA LÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CON NGƯỜI" trên cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt

3.3. Ẩn dụ cấu trúc “HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC GIA LÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI”

3.3.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

3.3.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

3.3.3. So sánh ẩn dụ cấu trúc "HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC GIA LÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI" trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về ẩn dụ cấu trúc trong diễn ngôn chính trị đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học. Các công trình nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng diễn ngôn chính trị không chỉ là một phương tiện truyền đạt thông tin mà còn là một công cụ mạnh mẽ để hình thành và định hình tư duy xã hội. Việc áp dụng lý thuyết nghiên cứu ngôn ngữ vào phân tích diễn ngôn chính trị giúp làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ẩn dụ ý niệm đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải các giá trị văn hóa và tư tưởng chính trị. Đặc biệt, các ẩn dụ như “CHÍNH TRỊ LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH” hay “QUỐC GIA LÀ MỘT CON NGƯỜI” không chỉ phản ánh cách nhìn nhận của người nói mà còn ảnh hưởng đến cách mà người nghe tiếp nhận thông điệp.

1.1. Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm

Nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm đã phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng ẩn dụ không chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ mà còn là một phần không thể thiếu trong cách mà con người hiểu và tương tác với thế giới. Theo lý thuyết của Lakoff và Johnson, ẩn dụ giúp con người hình dung và định hình các khái niệm trừu tượng thông qua các hình ảnh cụ thể. Điều này đặc biệt quan trọng trong diễn ngôn chính trị, nơi mà các khái niệm phức tạp thường được đơn giản hóa thông qua các ẩn dụ cấu trúc. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng ẩn dụ trong diễn ngôn chính trị không chỉ giúp truyền tải thông điệp một cách hiệu quả mà còn tạo ra sự đồng cảm và kết nối với người nghe.

II. Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc có miền đích CHÍNH TRỊ

Chương này tập trung vào việc phân tích các ẩn dụ cấu trúc có miền đích là CHÍNH TRỊ trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh. Các ẩn dụ như “CHÍNH TRỊ LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH” được phân tích từ cả hai ngôn ngữ, cho thấy sự tương đồng và khác biệt trong cách mà hai nền văn hóa này tiếp cận vấn đề chính trị. Phân tích cho thấy rằng ẩn dụ không chỉ đơn thuần là một công cụ ngôn ngữ mà còn phản ánh những giá trị văn hóa sâu sắc. Ví dụ, trong tiếng Việt, ẩn dụ này thường gắn liền với hình ảnh của sự phát triển và tiến bộ, trong khi trong tiếng Anh, nó có thể mang ý nghĩa về sự khám phá và mạo hiểm. Sự khác biệt này không chỉ thể hiện trong ngôn ngữ mà còn trong cách mà người dân hai nước nhìn nhận về chính trị.

2.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

Trong tiếng Việt, ẩn dụ “CHÍNH TRỊ LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH” thường được sử dụng để nhấn mạnh quá trình phát triển và thay đổi trong chính trị. Các nhà chính trị thường sử dụng hình ảnh này để thể hiện sự tiến bộ và những bước đi cần thiết để đạt được mục tiêu. Điều này cho thấy rằng diễn ngôn chính trị không chỉ là việc truyền đạt thông tin mà còn là việc xây dựng hình ảnh và tạo dựng niềm tin từ phía công chúng. Các ví dụ từ các bài viết trong mục Bình luận quốc tế của báo Nhân dân điện tử cho thấy rằng việc sử dụng ẩn dụ này giúp người đọc dễ dàng hình dung và đồng cảm với các vấn đề chính trị phức tạp.

2.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

Trong tiếng Anh, ẩn dụ “CHÍNH TRỊ LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH” cũng được sử dụng rộng rãi, nhưng với những sắc thái khác nhau. Các nhà báo và chính trị gia thường sử dụng hình ảnh này để nhấn mạnh sự khám phá và những thách thức trong quá trình chính trị. Điều này cho thấy rằng diễn ngôn chính trị trong tiếng Anh không chỉ đơn thuần là việc truyền tải thông tin mà còn là việc khơi gợi cảm xúc và sự quan tâm từ phía người đọc. Các bài viết trong mục Opinion của The New York Times thường sử dụng ẩn dụ này để tạo ra sự kết nối với độc giả, giúp họ cảm nhận được những khó khăn và thách thức mà chính trị đang phải đối mặt.

III. Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc có miền đích QUỐC GIA

Chương này phân tích các ẩn dụ cấu trúc có miền đích là QUỐC GIA trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh. Các ẩn dụ như “QUỐC GIA LÀ MỘT CON NGƯỜI” được sử dụng để thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân và quốc gia. Phân tích cho thấy rằng trong tiếng Việt, ẩn dụ này thường nhấn mạnh sự gắn bó và trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với quốc gia, trong khi trong tiếng Anh, nó có thể mang ý nghĩa về sự độc lập và tự chủ. Sự khác biệt này phản ánh những giá trị văn hóa và tư tưởng chính trị khác nhau giữa hai nền văn hóa.

3.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

Trong tiếng Việt, ẩn dụ “QUỐC GIA LÀ MỘT CON NGƯỜI” thường được sử dụng để nhấn mạnh sự gắn bó giữa cá nhân và quốc gia. Các nhà chính trị thường sử dụng hình ảnh này để thể hiện trách nhiệm của mỗi công dân đối với sự phát triển của đất nước. Điều này cho thấy rằng diễn ngôn chính trị không chỉ là việc truyền đạt thông tin mà còn là việc xây dựng ý thức cộng đồng và trách nhiệm xã hội. Các ví dụ từ các bài viết trong mục Bình luận quốc tế của báo Nhân dân điện tử cho thấy rằng việc sử dụng ẩn dụ này giúp người đọc cảm nhận được vai trò của mình trong việc xây dựng và bảo vệ quốc gia.

3.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

Trong tiếng Anh, ẩn dụ “QUỐC GIA LÀ MỘT CON NGƯỜI” cũng được sử dụng, nhưng với những sắc thái khác nhau. Các nhà báo và chính trị gia thường sử dụng hình ảnh này để nhấn mạnh sự độc lập và tự chủ của quốc gia. Điều này cho thấy rằng diễn ngôn chính trị trong tiếng Anh không chỉ đơn thuần là việc truyền tải thông tin mà còn là việc khơi gợi cảm xúc và sự quan tâm từ phía người đọc. Các bài viết trong mục Opinion của The New York Times thường sử dụng ẩn dụ này để tạo ra sự kết nối với độc giả, giúp họ cảm nhận được những thách thức mà quốc gia đang phải đối mặt.

25/01/2025
Luận văn thạc sĩ ẩn dụ cấu trúc trong các diễn ngôn chính trị tiếng việt và tiếng anh trong mục bình luận quốc tế của báo nhân dân điện tử và mục opinion của the new york times

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, 3 chƣơng và phần kết luận: Chƣơng 1: Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án. Dựa trên những nghiên cứu đi trƣớc, luận án xác lập khung lý thuyết nghiên cứu ẩn dụ cấu trúc trong tiếng Việt và tiếng Anh làm cơ sở cho việc phân tích ADCT trong DNCT ở chƣơng 2 và 3. Chƣơng 2: Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc có miền đích ―Chính trị‖ trong diễn ngôn chính trị tiếng Anh và tiếng Việt, tập trung phân tích các ẩn dụ cấu trúc có miền đích ―Chính trị‖, đồng thời đƣa ra các biểu thức ẩn dụ cấu trúc phổ biến trong DNCT tiếng Việt và tiếng Anh. Chƣơng 3: Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc có miền đích ―Quốc gia‖ trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh, tập trung nghiên cứu những nội dung liên quan đến những ẩn dụ cấu trúc có miền đích ―Quốc gia‖, đồng thời đƣa ra các biểu thức ẩn dụ cấu trúc phổ biến trong DNCT tiếng Việt và tiếng Anh.

Phần kết luận: tóm tắt các kết quả của luận án và đề xuất hƣớng nghiên cứu tiếp sau. 6 Luan van Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm 1.1 Nghiên cứu ẩn dụ theo hướng truyền thống * Các nghiên cứu ở ngoài nước Trong giai đoạn tiền tri nhận, ẩn dụ đƣợc hiểu là một sự so sánh ngầm giữa hai sự vật, hiện tƣợng.

Xét về mặt định nghĩa, theo từ điển Dictionary of Language Teaching & Applied Linguistics (Richards và cộng sự, 1992) ẩn dụ mô tả một sự vật, hiện tƣợng bằng cách nói đến một sự vật hiện tƣợng khác có thể đem ra so sánh với nó. Theo từ điển Oxford Advance Learner‘s Dictionary (Hobby, 2005), ẩn dụ là hiện tƣợng một từ ngữ đƣợc dùng để mô tả, sự vật hiện tƣợng theo một cách khác so với các dùng thông thƣờng của nó, nhằm cho thấy những đặc điểm tƣơng đồng hoặc liên kết về ý nghĩa của hai sự vật hiện tƣợng, từ đó nhấn mạnh sự mô tả độc đáo riêng biệt của biểu thức ẩn dụ. Bên cạnh những định nghĩa theo các từ điển kể trên thì trên thế giới, các nhà nghiên cứu đã có những công trình nghiên cứu về ẩn dụ khác. Theo nhận xét của Al-Zoubi, Al-Ali và Al-Hasnawi (2006), ẩn dụ là hiện tƣợng ngôn ngữ phổ biến xuất hiện trong nhiều ngôn ngữ khác nhau và thể hiện ở nhiều cấp độ về mặt ngôn ngữ.

Lý do cho sự phổ biến này đƣợc các tác giả giải thích là nhờ việc ẩn dụ có khả năng linh hoạt trong biểu thị ý nghĩa, đơn giản hóa các ý niệm, định nghĩa mang tính trừu tƣợng cao [95]. Theo Charteris-Black (2004), bên cạnh những nhận định của Al-Zoubi, Al-Ali và Al-Hasnawi, ông còn nhấn mạnh rằng hiệu quả của ngôn ngữ và giao tiếp đƣợc nhấn mạnh nhờ vào ẩn dụ do có sức nặng thuyết phục đối với lý trí và tình cảm của ngƣời nghe [99]. Có thể thấy rằng việc sử dụng ẩn dụ trong ngôn ngữ hứa hẹn đạt đƣợc hiệu quả tối đa, bởi đó là kết quả của chắt lọc văn hóa đại chúng dựa trên những giá trị văn hóa dân tộc. Ẩn dụ giống nhƣ hình ảnh phản chiếu của nhận thức và hành động 7 Luan van của một cộng đồng văn hóa, phản ánh quan điểm và nhận thức của họ đối với thế giới khách quan và đời sống xã hội.

Tuy nhiên với hƣớng nghiên cứu này, nhà nghiên cứu cho rằng ẩn dụ chỉ là vấn đề thuộc về ngôn ngữ và không thuộc các vấn đề về tƣ duy và hành động, thêm vào đó, hƣớng nghiên cứu này cho rằng lối nói ẩn dụ chỉ xuất hiện trong các dạng ngôn ngữ đặc biệt, ví dụ nhƣ trong thi ca và tu từ học (Lakoff (1989)) [126]. Giống với quan điểm của Lakoff, Kövecses (2015) nhận định, tu từ học truyền thống xem xét ẩn dụ dƣới góc độ là một đặc điểm của từ ngữ, đƣợc xuất hiện với mục đích nghệ thuật và không thƣờng xuyên xuất hiện trong giao tiếp hàng ngày [124]. Chính vì lý do này, ẩn dụ đƣợc hiểu là cách nói bóng bẩy xuất phát từ nhu cầu biểu đạt những khái niệm hoặc những ý nghĩa mà ngôn ngữ theo lối thông thƣờng khó biểu đạt. Dựa trên những phân tích trên thì ẩn dụ theo hƣớng nghiên cứu truyền thống là cách nói bóng bẩy với mục đích nghệ thuật bởi ẩn dụ dựa trên khái niệm tƣơng đồng hoặc so sánh giữa việc biểu thị nghĩa hình ảnh của hai sự vật hiện tƣợng.

Chính sự tƣơng đồng này cho phép giải thích sự vật hiện tƣợng theo lối ẩn dụ. * Các nghiên cứu trong nước Theo quan điểm truyền thống, ở Việt Nam, nhiều nhà ngôn ngữ học định nghĩa ẩn dụ dựa trên cơ sở là sự tƣơng đồng. Nguyễn Thiện Giáp (2011) có quan điểm tƣơng tự: ―Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tƣợng đƣợc so sánh với nhau‖ [17]. Từ những năm 1990 cách tiếp cận tri nhận trong nghiên cứu ngôn ngữ đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam.

Năm 1990, Nguyễn Lai nghiên cứu Từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt, phân tích sự phát triển của ngữ nghĩa dựa trên những trải nghiệm của tâm lý và vật lý của các từ chỉ hƣớng ra-vào, lên-xuống, đến-tới, lại- qua, sang-về. Công trình này không dùng thuật ngữ ―ngôn ngữ học tri nhận‖, tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu đây là công trình mang màu sắc tri nhận đầu tiên, mở ra hƣớng nghiên cứu mới cho các nhà ngôn ngữ học ở Việt Nam [44]. Năm 2002, tác giả Nguyễn Đức Tồn đã bƣớc đầu sử dụng thuật ngữ tri giác khi bàn đến ẩn dụ 8 Luan van dƣới lăng kính là một kiểu ―tƣ duy phạm trù‖. Đặc biệt, Trần Văn Cơ (2009) với chuyên khảo Khảo luận ẩn dụ tri nhận đã tổng thuật hai công trình kinh điển của Lakoff và Johnson là ―Metaphors We Live by và Women, Fire and the Dangerous Things: What Categories Reveal about the Mind‖ một cách toàn diện, hệ thống các vấn đề cốt lõi về ẩn dụ ý niệm, các khái niệm then chốt đƣợc phân tích, diễn giải tỉ mỉ bằng ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, mở ra hƣớng đi mới cho các nghiên cứu sau này [6].

Tóm lại với hƣớng nghiên cứu truyền thống thì ẩn dụ chỉ đƣợc xem xét nhƣ một hiện tƣợng chuyển nghĩa của từ, có thể chỉ là hiện tƣợng lời nói (ẩn dụ tu từ) hoặc hiện tƣợng ngôn ngữ (ẩn dụ từ vựng) chứ chƣa đƣợc coi là một phƣơng thức tƣ duy nhƣ ngôn ngữ học tri nhận quan niệm sau này. Phần tiếp theo chúng tôi sẽ trình bày riêng về nghiên cứu ẩn dụ theo hƣớng ngôn ngữ học tri nhận. Nghiên cứu ẩn dụ theo hướng ngôn ngữ học tri nhận * Các nghiên cứu ở ngoài nước Ngôn ngữ học tri nhận ra đời dẫn đến những thay đổi khi nghiên cứu về ẩn dụ. Dẫn đầu trong nghiên cứu ẩn dụ theo hƣớng ngôn ngữ tri nhận bắt đầu từ những năm 1980 với những công trình nghiên cứu của những nhà khoa học thế giới nhƣ G.

Grady… Nghiên cứu điển hình nhất và đƣợc coi là thành công nhất đối với nghiên cứu ẩn dụ theo hƣớng ngôn ngữ tri nhận là công trình ―Metaphors We Live By‖ của G. Trong công trình này, Lakoff và Johnson bắt đầu phát triển các khái niệm mới về ẩn dụ ý niệm và bắt đầu liên kết ẩn dụ trong nghiên cứu ngôn ngữ tới những ngành khoa học khác. Lakoff và Johnson cho rằng, ẩn dụ là một quá trình liên quan đến nhận thức hơn là một quá trình ngôn ngữ. Dƣới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ là một phƣơng thức truyền đạt (công cụ) để ý niệm hóa các khái niệm trừu tƣợng hoặc tƣ duy về sự vật; ―hệ thống ý niệm thông thƣờng của chúng ta, dựa vào đó chúng ta vừa suy nghĩ, vừa hành động, về cơ bản mang bản chất ẩn dụ‖.

Ban đầu, xu hƣớng nghiên cứu ẩn dụ theo hƣớng ngôn ngữ tri nhận dựa vào trải nghiệm, tuy nhiên xu hƣớng này đã có những phát triển mới về sau. Lakoff 9 Luan van và Johnson cho rằng những ẩn dụ cảm xúc xuất hiện trong ngôn ngữ và xuất phát từ cơ sở văn hóa và sinh học của con ngƣời [130]. Dựa trên nền tảng về ngôn ngữ học tri nhận, Lakoff (1993) tiếp tục phát triển các khái niệm về ẩn dụ, ông phát triển tƣ tƣởng về sự liên hệ giữa quá trình tạo lập hệ thống ý niệm của con ngƣời, cấu trúc của ngôn ngữ tự nhiên và vai trò của ẩn dụ để xây dựng học thuyết về ―tƣ duy nghiệm thân‖ (embodied mind). Học thuyết này nghiên cứu sự liên hệ và phụ thuộc giữa năng lực nhận thức và tƣ duy đến thế giới quan trong đó liên kết với khía cạnh sinh học của con ngƣời: đặc điểm não bộ và cơ thể ngƣời [127].

Việc ứng dụng những thành tựu của các lĩnh vực khoa học khác vào nghiên cứu ẩn dụ đã tạo tiền đề cho việc ứng dụng lý thuyết ẩn dụ vào nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống. Các nghiên cứu cấu trúc của ẩn dụ đã góp phần làm sáng tỏ thêm cách thức con ngƣời tƣ duy ở một số lĩnh vực quan trọng. Xa hơn, đến nghiên cứu của Grady (1997) thì tác giả còn chỉ ra rằng kinh nghiệm hàng ngày, kinh nghiệm cảm giác của con ngƣời là cơ sở đƣa ra các đánh giá chủ quan của nhận thức ngôn ngữ [111, 112]. Về mối quan hệ giữa ẩn dụ trong văn học và trong ngôn ngữ đời thƣờng, Lakoff và Tunner (1989) chứng minh rằng các ẩn dụ văn học đều có cơ sở sâu xa từ các ẩn dụ đời thƣờng và chỉ khi phép ẩn dụ trong thơ ca ổn định thì ẩn dụ đó mới đƣợc tiếp tục sử dụng, nhập vào ngôn ngữ đời thƣờng.

Các ý niệm về đạo đức đƣợc thể hiện một cách rõ ràng trong văn học thông qua các ẩn dụ và thảo luận về ẩn dụ. Qua những thảo luận này những ý niệm hoặc thông điệp đƣợc truyền đạt nhanh và rõ ràng hơn [126]. Trong lĩnh vực pháp luật, chính trị và xã hội, Lakoff và Johnson (1996) đã chứng minh đƣợc rằng: ―Ẩn dụ đóng vai trò then chốt trong kiến tạo thực trạng xã hội và chính trị‖. Trong nghiên cứu của mình, Lakoff và Johnson đã tiến hành nghiên cứu đối tƣợng là thế giới quan của những ngƣời có quan điểm bảo thủ và cấp tiến ở Mỹ.

Ông tiến hành nghiên cứu và xem xét quan điểm về kiểm soát súng đạn, thuế phí, các luật liên quan đến nhân quyền, môi trƣờng và nghệ thuật trong một cấu trúc khung tri nhận nhất định [128].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu ẩn dụ cấu trúc trong các diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh" của tác giả Hồ Thị Thoa, dưới sự hướng dẫn của GS. Nguyễn Văn Hiệp, tập trung vào việc phân tích và so sánh các ẩn dụ cấu trúc trong diễn ngôn chính trị của hai ngôn ngữ. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức mà ngôn ngữ hình thành và ảnh hưởng đến tư duy chính trị, mà còn mở ra những góc nhìn mới về sự tương đồng và khác biệt trong cách diễn đạt chính trị giữa Việt Nam và các nước nói tiếng Anh.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ học và các khía cạnh văn hóa liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận Văn Phân Tâm Học Về Nhân Vật Trong Tác Phẩm Vũ Trọng Phụng", nơi khám phá các nhân vật trong văn học Việt Nam từ góc nhìn phân tâm học, hoặc bài viết "Khảo Sát Văn Hóa Ứng Xử Gia Đình Và Xã Hội Trong Tục Ngữ", giúp bạn hiểu thêm về cách thức mà văn hóa và ngôn ngữ tương tác trong xã hội Việt Nam. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa, tạo điều kiện cho bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các chủ đề này.