CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYET VA TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Giáo duc Đại học Hiện nay, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức về giáo dục đại học, nhưng có thé hiểu giáo dục đại học là hình thức tô chức giáo duc cho các bậc học sau giai đoạn bậc phố thông với các trình độ dao tạo: gồm trình độ cao dang, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiễn sĩ.
Theo Điều 5 Luật Giáo dục đại học 2012 và Khoản 3 Điều 77 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014. Mục tiêu chung của giáo dục đại học là: - Pao tạo nhân lực chuyên sâu theo các ngành nghề trong xã hội đang phát triển, xây dựng phát triển các đề tài nghiên cứu khoa học, chú trọng vào việc công nghệ tạo ra tri thức, sản phâm mới ngay từ khi còn trong môi trường học tập tạo nền tang có san dé có thé phục vụ các nhu cầu dé hướng tới phát triển kinh tế — xã hội. - Đảo tạo về phẩm chất chính tri, đạo đức theo chuẩn mực chung riêng về khối nhà nước thì đào tạo theo Đảng; xây dựng nên tảng kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, phát triển năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học va công nghệ tương xứng với trình độ dao tạo thích nghi với môi trường làm việc; đi kèm với đó là có ý thức phục vụ nhân dân. Học sinh Trung học phố thông Trích từ Luật giáo dục Việt Nam 2005, học sinh THPT là người đã vượt qua kỳ thi tốt nghiệp THCS (hiện nay là qua hình thức xét tuyển) và tiếp tục học ở bậc THPT thông qua kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10.
Học sinh THPT với độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi, phải trải qua chương trình học gồm 3 lớp tương đương với 10, 1Ivà 12. Các em thuộc độ tuôi vị thành niên, một độ tuổi nhạy cảm với những đặc điểm tâm sinh lý riêng, có những anh hưởng nhất định đến quyết định lựa chọn nghề nghiệp, chọn trường đại học. Tại lứa tuổi này, với kha năng nhận thức tương đối rõ rệt về lợi ích của các quyết định, các em hoc sinh THPT hoàn toàn có thé nhận biết rõ được những gì họ muốn, nhu cầu cần thiết cũng như việc biết lựa chọn so sánh nhằm hướng đến sự phù hợp và tận dụng được các lợi thế, kỹ năng của chính mình (Theo Ginzberg, Ginzburg, Axelrad, và Herme, 1951). Điều này được chứng minh là hoàn toàn đúng trong ý định lựa chọn trường đại học, nghĩa là học sinh THPT có thể ý thức được tầm quan trọng và họ luôn có những mong đợi lợi ích nhất định đối với quyết định này.
Ý định hành vi Trong tâm lý học, ý định hành vi là một khái niệm quan trọng dé giai thich va du đoán hành vi của con người. Trong Ly thuyết hành động hợp ly (Theory of reasoned action - TRA), một trong những lý thuyết được áp dụng và trích dẫn rộng rãi nhất về lý thuyết hành vi, Icek Ajzen (1991) đã nêu lên khái niệm về Ý định hành vi như sau: Hanh vi: được hiéu là phản ứng có thé quan sát được của một cá nhân trong một tình huống cụ thé khi trong họ có một mục tiêu nhất định. Theo Ajzen, ông cho rằng một hành vi là một chức năng của các ý định tương thích với nhận thức kiểm soát hành vi, trong đó kiểm soát hành vi được nhận thức sẽ làm giảm bớt tác động của ý định đối với hành vi. Do đó, ông nhận định khi nhận thức kiểm soát hành vi là mạnh, một dự định có lợi sẽ tạo ra hành vi.
Y định hành vi: Đây là một dấu hiệu cho thấy sự sẵn sàng của một cá nhân khi quyết định thực hiện một hành vi nhất định. Ở đây, ý định hành vi được coi là tiền đề của việc thực hiện hành vi. Nó được chứng minh dựa trên thái độ đối với hành vi, quy chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi. Room (1964) đề cập đến ý định hành vi của con người trong thuyết Kỳ vọng năm 1964.
Ông cho rằng ý định hành vi của con người bắt nguồn từ sự kỳ vọng của họ về kết quả của hành động và giá trị của kết quả đó. Ý định thực hiện hành động là niềm tin về kết quả hành động và giá trị của hành động. Sự kỳ vọng của chính bản thân con người trong tương lai đã quyết định hành vi và động cơ làm việc của họ. Giải thích đơn giản hơn, nếu những kết quả trong tương lai nếu cá nhân thực hiện hành vi đó được dự đoán là hấp dẫn, con người sẽ có xu hướng đưa ra ý định thực hiện hành động để đạt được kết quả mà bản thân họ đang kỳ vọng.
Theo Bandura 1977, khi bàn đến nội dung của thuyết Nhận thức xã hội (tén Tiếng Anh: Social cognitive theory), đã cho răng con người có thể kiêm soát hành vi của mình bang cách thay đổi giá trị và kỳ vọng của mình. Con người có ý định hành vi dé đáp ứng các mục tiêu của họ và kiểm soát hành vi của mình để đạt được kết quả mà họ mong muốn. Sự tương tác giữa suy nghĩ, tình cảm và hành động được nhận xét là kết quả của mỗi tương quan giữa yêu tô cá nhân và hành vi. Hay nói cách khác, ý định hành vi của con người là những kỳ vọng, niềm tin, những mục tiêu, nhận thức được hình thành trong suy nghĩ của bản thân dé dẫn đến hành động.
Hanh vi con người là tam gương phan ánh những suy nghĩ, tin tưởng và sự cảm nhận của họ. Những phản ứng tự nhiên hay có điều kiện của mỗi người sẽ quyết định kiểu suy nghĩ và cách thé hiện cảm xúc của họ. Yếu tố cá nhân còn bao gồm những đặc điểm sinh học của các cơ quan tổ chức. Cau trúc về thê chất, hệ thống giác quan và thần kinh ảnh hưởng đến hành vi và chi phối mạnh mẽ đến khả năng của con người.
Những gi nhận của hệ thống giác quan và bộ não có thể bị điều chỉnh thông qua những trải nghiệm về hành vi Tóm lại, ý định hành vi được giải thích là những suy nghi, kỳ vọng, dự định, nhận thức được hình thành trong suy nghĩ của một cá nhân dé dẫn đến hành động có mục đích. Ý định hành vi được coi là tiền để của thực hiện hành vi. Bên cạnh đó, một số các thuyết tâm lý hành vi được đưa ra và được coi là rất quan trọng dé giải thích và dự đoán hành vi của con người, giúp ta hiéu rõ hơn, dựa vào đó đưa ra các nhận định về những yếu t6 ảnh hưởng đến ý định hành vi của con người. Các thuyết về hành vi 1.
Thuyết hành động hợp lý Năm 1980, Ajzen và Fishbein đã xây dựng và phát triển Thuyết hành động hợp lý (TRA) với mục tiêu dự đoán “Hành vi” của đối tượng nghiên cứu thông qua việc đánh giá các yêu tô ảnh hưởng khác nhau. Mô hình TRA được mô tả chỉ tiết dưới đây: Niềm tin về hành vi Đánh giá kết quả thực hiện || Hành vi |——_ Ý định hành vi Niềm tin theo quy chuẩn wa Chuẩn mực chủ quan Động cơ tuân thủ Hình 1.1: Mô hình thuyết hành động hợp lý Nguồn: Tổng hợp từ Thuyết hành động hợp lý, 2023. Từ mô hình trên, ta có thế thấy, nhân tố quan trọng cốt lõi nhằm quyết định việc thực hiện hành vi của một đối tượng nào đó được thể hiện qua “Ý định thực hiện hành vi”. Nhân tố này đồng thời được tác động và do lường bởi hai nhân tố khác là “Thái độ” và “Chuẩn chủ quan”.
Trước hết, khi xét nhân té đầu tiên tác động trực tiếp đến kết quả của nhân tố “Y định thực hiện hành vi”, tác giả đề cập đến “Thái độ”. Yếu tố về “Thái độ” là cách một cá nhân cảm nhận về một hành vi nào đó. Các tác giả cho rằng có sự tương quan mật thiết mang tính thuận chiều giữa nhân tố “Thái độ” và kết quả của “Y định thực hiện hành vi”. Cụ thể hơn, các tác giả đưa ra giải thích khi một cá nhân có thái độ tích cực đối với hành vi nào đó, họ sẽ đánh giá rằng hành vi cụ thé đó sẽ có kết quả được như họ đang mong muốn, nhưng ngược lại, nếu cá nhân đó đánh giá rằng hành vi nào đó sẽ có kết quả không được như sự kỳ vọng thì cá nhân đó sẽ bị trở nên tiêu cực hơn.
Bên cạnh đó, nhân tố này còn được đo lường bởi hai yếu tố là “Niềm tin về hành vi” và “Đánh giá kết quả thực hiện”. Trong đó, yếu tố “Niềm tin về hành vi” được định nghĩa là niềm tin đối với kết quả có thể xảy ra khi một hành vi nào đó được thực hiện, còn yếu tố “Đánh giá kết quả thực hiện” được miêu tả bởi sự đánh giá kết quả về mức độ tích cực hoặc tiêu cực của việc thực hiện hành vi. Tiếp theo đó, “Chuẩn chủ quan” được xác định là nhân tố thứ hai tác động trực tiếp đến kết quả của nhân tố “Ý định thực hiện hành vi”. Nhân tố này có thể hiểu là sự tác động từ các nhóm người tham chiếu đến một cá nhân nào đó; nhưng đồng thời dựa theo định nghĩa mà Ajzen chỉ ra rằng: “Chuẩn chủ quan được hiểu là sức ép từ xã hội được cảm nhận để một cá nhân quyết định thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi”.
Tương tự như nhân tô “Thái độ”, hai yếu tố là “Niềm tin theo quy chuẩn” và “Động cơ tuân thu” được đặt ra dé đo lường cho khái nệm “Chuẩn chủ quan”. Trong đó, “Niềm tin theo quy chuẩn” được xác định là việc một cá nhân nào đó quyết định những hành động nào được cho phép và những hành động nao không được cho phép; nhưng cũng có thé hiểu răng, nhân tô này là niềm tin, suy nghĩ chung của nhóm người tham chiếu về việc một cá nhân nên hay không nên thực hiện một hành vi nao đó. Một cá nhân càng được củng cô thêm niềm tin và có xu hướng thực hiện hành vi nào đó khi được càng nhiều số lượng người tham chiếu ủng hộ, nhưng ngược lại, khi lượng người tham chiếu phản đối nhiều lên thì cá nhân đó sẽ ít, thậm chí không có xu hướng thực hiện hành vi đó. Bên cạnh yếu tố “Niềm tin theo quy chuẩn”, yếu tố “Động cơ tuân thủ” chính là việc đánh giá mức độ tuân thủ hay không tuân chủ của một cá nhân theo các quy chuân chung của xã hội.