Đặt vấn đề nghiên cứu: Giáo dục luôn là vấn đề được xã hội quan tâm nhiều nhất. Ngày nay, với tốc độ phát triển của nền kinh tế thì vấn đề giáo dục đã được nâng lên tầm cao mới. Trong đó, giáo dục Đại học đóng vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia. Chất lượng và giá trị của giáo dục không những ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư cho giáo dục của toàn xã hội, mà còn là trách nhiệm của các trường đào tạo với sinh viên và các bên liên quan.
Đứng trước xu thế nền giáo dục nước ta đang có sự phát triển mạnh mẽ, có cả sự tham gia của trường công lập, dân lập và sự tham gia của các trường quốc tế. Tuyển dụng sinh viên là một chính sách mà dần dần đã trở thành vấn đề cần chú ý của giáo dục Đại học. Tuy nhiên, trong những năm gần đây thì khoảng cách giữa các trường công và tư càng được rút ngắn. Lợi thế cạnh tranh vốn có của trường công mất dần đi, chính vì vậy các trường này phải có sự đổi mới và biết cách thu hút các khách hàng của mình để có thể cạnh tranh lại với những tổ chức giáo dục khác.
Môi trường giáo dục cạnh tranh và mang tính toàn cầu đem đến cho sinh viên những điều kiện thuận lợi để tiếp cận, lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nhiều cơ hội để khẳng định năng lực của bản thân. Sinh viên có thể tiếp cận với môi trường giáo dục quốc tế, được học tập thông qua những công nghệ hiện đại, có được công việc tốt với mức thu nhập cao… Tuy nhiên, để hoạt động nhận thức đạt hiệu quả, ngoài việc biết nắm bắt, chuyển hóa tốt những cơ hội, sinh viên cần phải xác định rõ ràng động cơ học tập cho bản thân. Động cơ học tập sẽ chi phối hoạt động nhận thức và ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động ấy. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Vietnamnet.
(2017)), tính đến hết năm học 2016-2017, hệ thống hiện có 235 trường đại học, học viện (bao gồm 170 trường công lập, 60 trường tư thục và dân lập, 5 trường có 100% vốn nước ngoài), 37 viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ, 33 trường cao đẳng sư phạm và 2 trường trung cấp sư phạm. 1 Luan van Năm học 2016-2017, có thêm 1 cơ sở đào tạo được thành lập mới trên cơ sở đã có quyết định chủ trương thành lập của Thủ tướng Chính phủ (Học viện dân tộc); 3 cơ sở đào tạo được cấp phép hoạt động và đều là các cơ sở có 100% vốn đầu tư nước ngoài (Trường ĐH Mỹ tại Việt Nam, Trường ĐH Y Khoa Tokyo, Trường ĐH Fulbright Việt Nam), 1 phân hiệu của ĐHQG TP.HCM được thành lập tại Bến Tre. Về quy mô đào tạo, năm học 2016-2017, tổng quy mô sinh viên đại học 1.879 sinh viên, giữ ổn định so với năm học 2015-2016; quy mô sinh viên cao đẳng sư phạm giảm 14,3%, chỉ còn 47. Phần lớn sinh viên tập trung theo học các ngành thuộc khối ngành V III: Toán và thống kê; Máy tính và công nghệ thông tin; Công nghệ kỹ thuật; Kỹ thuật; Sản xuất chế biến; Kiến trúc và xây dựng, Nông lâm và thuỷ sản; Thú y và khối ngành: kinh doanh quản lý, pháp luật.
Tính từ đầu năm 2016 đến 31/7/2017, tổng số ngành mở mới ở trình độ đại học là 184 ngành, tập trung chủ yếu vào các nhóm ngành Kỹ thuật, Công nghệ kỹ thuật, Máy tính và Công nghệ thông tin, Khoa học xã hội và hành vi, Kinh doanh quản lý, Pháp luật. Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhiều trường vẫn chưa quan tâm đầu tư các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo để đáp ứng quy mô tuyển sinh; đội ngũ giảng viên, đặc biệt là giảng viên cơ hữu chưa đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn; nguồn lực tài chính phân tán; chưa đầu tư dự báo thị trường nên các ngành đào tạo còn trùng lặp, chồng chéo trong một địa bàn. Nhiều nơi mở ngành đào tạo vẫn dựa vào năng lực và kinh nghiệm vốn có, dẫn đến những ngành xã hội cần thì lại thiếu. Đó là những nguyên nhân khiến cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý và chất lượng đào tạo hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu phục vụ phát triển KT-XH của đất nước.
2 Luan van Năm học 2016-2017, học sinh tốt nghiệp THPT vào đại học, cao đẳng khoảng 41%, vào cao đẳng nghề, trung cấp khoảng 23%, học nghề tại trung tâm đào tạo nghề khoảng 13%, đi làm khoảng 10%. Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT và đăng ký xét tuyển đại học năm nay, tỷ lệ học sinh không đăng ký xét tuyển đại học là 26%. Thực tế cho thấy đã có sự chuyển biến về nhận thức của học sinh trong việc lựa chọn ngành nghề và hướng đi phù hợp với năng lực của mình. Tuy nhiên, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhìn nhận, hệ thống thông tin thị trường lao động còn thiếu và chậm cập nhật, chưa đáp ứng yêu cầu định hướng nghề nghiệp cho học sinh, nhất là đối với học sinh THCS trong bối cảnh tâm lý chạy theo bằng cấp còn nặng nề.
Chính điều đó dẫn đến áp lực hết sức nặng nề cho các học sinh trong các kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ. Hầu hết các em có mơ ước vào các trường đại học (kể cả những em có học lực yếu) trong khi xã hội đang cần rất nhiều công nhân kỹ thuật lành nghề tham gia trực tiếp trong một số lĩnh vực nghề nghiệp. Ước mơ của các em đôi khi còn rất xa với thực tế lao động, hoạt động nghề nghiệp, chưa thấy được giá trị đích thực của các nghề. Các em có kỳ vọng quá cao vào một số nghề nhưng khi tiếp xúc với nghề nghiệp trong thực tế thường làm các em thất vọng.
Chọn nghề mà hiểu biết quá ít, thậm chí không hiểu nghề định chọn thì sớm muộn sẽ gặp trở ngại lớn trong hoạt động nghề nghiệp của cá nhân, tạo sự hẫng hụt, bi quan chán nản, miễn cưỡng trong lao động. Thực tế cho thấy, không phải bao giờ nam nữ thanh niên cũng có thể giải quyết đúng đắn vấn đề chọn nghề của mình.Klimốp có thể có hai nguyên nhân chính dẫn đến chọn nghề không phù hợp: - Thứ nhất, do cá nhân có thái độ không đúng với các tình huống khác nhau của việc chọn nghề (đối với lĩnh vực hoạt động và sự khuyên bảo của người đi trước…). Những thành kiến và tiếng tăm nghề nghiệp do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của những người khuyên bảo, sự yêu thích nghề… mới chỉ là bề ngoài, cảm tính. Cá nhân chưa thực sự hiểu được nghề đó.
3 Luan van - Thứ hai, cá nhân thiếu tri thức, kinh nghiệm về những tình huống đó. Có thể do sự đồng nhất môn học với nghề, không hiểu hết năng lực của bản thân, không biết hoặc không đánh giá đầy đủ những đặc điểm phẩm chất cá nhân, không hiểu được đặc điểm và yêu cầu của nghề đòi hỏi với người lao động, thao tác và trình tự của chúng khi giải quyết vấn đề chọn nghề. Việc chọn nghề, nơi đào tạo nghề của học sinh rất quan trọng. Vì vậy, cần phải có sự hướng dẫn để các em khi chọn nghề, chọn trường biết kết hợp một cách lý tưởng ba yếu tố: nguyện vọng, năng lực của cá nhân, những đòi hỏi của nghề nghiệp và yêu cầu của xã hội.
Vì vậy nhóm tác giả quyết định thực hiện đề tài nghiên cứu "Phân tích các yếu tố tác động đến quyết định chọn trường ĐH, CĐ ở TP. HCM của học sinh THPT ở tỉnh Đồng Nai” nhằm tìm ra các giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả công tác tư vấn hướng nghiệp và tuyển sinh cho học sinh THPT. Nhóm tác giả chọn học sinh trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là do Đồng Nai là khu vực lân cận Thành Phố Hồ Chí Minh và thuận tiện cho đi lại. Mặc khác, số lượng học sinh ở Đồng Nai chọn thi vào các trường ở những năm trước cũng khá đông đúc, do đó nhóm tác giả tiến hành khảo sát đối tượng học sinh trên tỉnh này 1.2 Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học, cao đẳng ở TP.HCM của học sinh THPT ở tỉnh Đồng Nai, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao công tác hướng nghiệp nhằm giúp cho học sinh THPT chọn lựa đúng trường đại học cho chính mình.
Đề xuất các giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT trong việc quyết định chọn trường để theo học sau kỳ thi Tốt nghiệp THPT Quốc gia.3 Câu hỏi nghiên cứu: Nghiên cứu này tập trung trả lời cho 3 câu hỏi sau: 4 Luan van 1) Những yếu tố nào tác động đến sự lựa chọn trường Đại Học, Cao Đẳng của học sinh THPT. Mức tác động của những yếu tố này đối với việc chọn Trường của học sinh như thế nào? 2) Có sự khác biệt nào giữa việc chọn trường ĐH, CĐ TP.HCM đối với các trường khác hay không? 3) Gợi ý giải pháp nào có thể áp dụng để thu hút nhiều HS tham gia đăng ký xét tuyển vào Trường. Giới hạn nghiên cứu: Nghiên cứu này tiến hành khảo sát và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến quyết định chọn trường của học sinh lớp 12 THPT ở tỉnh Đồng Nai trong kì thi tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2018.4 Dữ liệu nghiên cứu: Dữ liệu có được thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện với bảng câu hỏi chi tiết.5 Phạm vi nghiên cứu: 1.1 Không gian Không gian nghiên cứu của đề tài là tỉnh Đồng Nai, ban đầu tác giả quyết định chọn 6 trường THPT: Trấn Biên, Nam Hà, Chu Văn An, Ngô Quyền, Long Thành và Long Khánh trong tổng số 68 trường nhưng do hạn chế về thời gian, phương tiện đi lại và nhóm tác giả tiến hành làm khảo sát trong khoảng thời gian hè nên việc tiếp cận học sinh trực tiếp tại trường là rất khó khăn nên nhóm tác giả quyết định chỉ tập trung nghiên cứu đối tượng học sinh tại 4 Trường THPT: Trấn Biên, Nam Hà, Chu Văn An và Ngô Quyền.2 Thời gian -Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 22/5/2018 đến 30/7/2018. - Số liệu sơ cấp được thu thập vào tháng 7/2018.3 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu tập trung vào các vấn đề liên quan đến các yếu tố tác động đến động cơ chọn Trường, tầm quan trọng của các yếu tố đó cũng như những tác động lên các nhóm học sinh khác nhau.