CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU NHỮNG PHẨM CHẤT TÂM LÝ CƠ BẢN CỦA HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH 1. Tổng quan nghiên cứu về phẩm chất tâm lý và phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài về phẩm chất tâm lý gắn liền với hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp Ở các nước phương Tây, do sớm diễn ra quá trình công nghiệp hóa, sự phân công lao động xã hội trở nên phân hóa rõ rệt giữa những người có năng lực phù hợp công việc và những người không có năng lực đáp ứng yêu cầu của hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp, nên nảy ra vấn đề nghiên cứu những đặc điểm thể chất và phẩm chất tâm lý của cá nhân như thế nào thì đáp ứng tốt yêu cầu của mỗi lĩnh vực hoạt động,… Trong bối cảnh đó, F. Parsons (1908) đã nghiên cứu, công bố bộ “Test và bảng hỏi để xác định năng lực sinh học, nhằm mục đích hướng nghiệp”; R.
Roe (1914) nghiên cứu và công bố bài viết về “Vai trò của động cơ trong sự hình thành nghề và những phẩm chất nghề”. Như vậy từ rất sớm, tác giả đã tách ra, nghiên cứu riêng mặt tâm lý ảnh hưởng đến hoạt động nghề nghiệp như thế nào?; R. Bachman (1942) đã đưa ra bảng “Các tiêu chí đánh giá về người lao động”. Trong đó, tác giả đã nhấn mạnh đến các mặt năng lực, tính kỷ luật, trách nhiệm, quan hệ với đồng nghiệp,…; D.
Super (1958) có công trình “Quá trình nhận thức về nghề của cá nhân”. Tác giả đã chỉ ra, nhận thức về nghề là một quá trình không đơn giản; cá nhân càng có nhận thức sâu sắc, đầy đủ về những đòi hỏi của nghề và tự nhận thức rõ về bản thân đối với nghề, thì làm nghề mới hiệu quả; Đáng chú ý nhất là công trình “Test chẩn đoán nhân cách để phục vụ cho việc tư vấn nghề” (F. Trong đó, ông đã mô tả yêu cầu của mỗi nghề là khác nhau và những phẩm chất nhân cách phù hợp với mỗi lĩnh vực nghề nghiệp; từ đó tìm kiếm các trắc nghiệm phát hiện các đặc điểm nhân cách ưu thế phù hợp với các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau,… Từ các nghiên cứu khái quát chung ban đầu, dần hình thành nên các hướng nghiên cứu đi sâu vào từng lĩnh vực hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp. Về lĩnh vực kinh doanh, Ladvsta Mikhail (1994) trong công trình nghiên cứu về giới kinh doanh nước Mỹ, đã đưa ra những PC nhà kinh doanh lý tưởng ở Mỹ; F.
Pollet (1995) đã công bố công trình “Khả năng tiềm tàng của con 8 người trong lao động và phẩm chất của người lãnh đạo” trong đó chỉ ra các PC của nhà lãnh đạo các doanh nghiệp phải vượt trội hơn người bình thường trong quản lý, lãnh đạo; J. Meyer (2011) trong bài báo “Phẩm chất của một nhà kinh doanh thành công” cho rằng nhà kinh doanh thành công thường có các phẩm chất đặc trưng như: có đầu óc nhạy bén, sắc sảo; có đầu óc mạo hiểm, dám chấp nhận rủi ro; tự tin vào năng lực của bản thân; đạo đức (chữ tín, lòng trung thực, lòng tin); không cam chịu số phận, không bằng lòng với hiện tại, chấp nhận thách thức với tương lai; thích sự cạnh tranh (dẫn theo L. Về lĩnh vực lãnh đạo/quản lý, A. Côvaliôv (1976) cho rằng, đánh giá nhân cách người lãnh đạo cần đặc biệt chú ý các PC như: PC đạo đức - chính trị; PC công tác, hiệu quả của hoạt động, trình độ đào tạo [11, tr.
Stogdill (1976) đã nghiên cứu sâu về những PC của người lãnh đạo và xác định người lãnh đạo cần 5 đặc điểm về thể chất (chiều cao, ngoại hình, sức khỏe,…), 4 đặc điểm về tri thức, 16 đặc điểm về nhân cách, 9 đặc điểm về xã hội và 6 đặc điểm tính cách,… Ông cho rằng, từng đặc điểm riêng lẻ có thể không có ý nghĩa, nhưng một nhóm đặc điểm thì liên quan rất chặt chẽ với sự thành công [96, tr. Như vậy, tác giả coi PC của người lãnh đạo là bao gồm cả mặt thể chất, vóc dáng ngoại hình đến nhân cách – tâm lý,… Tác giả V. Sêpen (1980) trong tác phẩm “Tâm lý học trong quản lý sản xuất” đã nêu ra các PC của người quản lý/ lãnh đạo gồm: PC chính trị, đạo đức; PC tổ chức, PC nghề nghiệp; PC tâm - sinh lý [69, tr. Lêbêđév (1982) trong giáo trình tâm lý học kinh doanh đã đề cập PC nhà quản lý trong kinh doanh, đó là: Tính độc lập, tự chủ; năng động, nhạy bén; làm việc có mục đích, kế hoạch; có ý chí vượt khó; dũng cảm, dám mạo hiểm, chấp nhận rủi ro; trung thực; có thiện chí, tôn trọng con người; cần cù chịu khó bền bỉ; tiết kiệm; biết giúp đỡ lẫn nhau; sẵn sàng hợp tác; có ý thức trách nhiệm; luôn giữ vững nguyên tắc quản lý; linh hoạt, tháo vát, sáng tạo; có lòng tin trong kinh doanh [20, tr.
Gaston Courtois (1990) đã chỉ ra rằng người lãnh đạo/ quản lý cần có 17 PC như: trí tuệ năng động, khả năng quan sát, lòng nhiệt tình, tính quyết đoán, tính trung thực, lòng nhân ái với mọi người, sự kiên nhẫn,… S. Bartlett (1994), trong cuốn sách “8 phẩm chất của nhà quản lý hiện đại” cho rằng nhà quản lý hiện đại cần có những PC như: có tầm nhìn xa trông rộng; dám nhận trách nhiệm, đương 9 đầu với những thử thách, chấp nhận thay đổi; sự tinh tế, khéo léo, linh hoạt trong giao tiếp; thích nghi nhanh với các thay đổi; tinh thần lạc quan, có cái nhìn tích cực với công việc; tư duy sáng tạo [2, tr. Về lĩnh vực y học, M. Simpson (1972) cho rằng sinh viên ngành y cần có một số PC như: trí tuệ, ham nghiên cứu khoa học, có sức khỏe, quan tâm đến mọi người, khách quan, thông cảm với mọi người, ngoại hình dễ chịu, thích ứng tốt, bình tĩnh, thấu hiểu ẩn ý người khác [56, tr.
Ở đây tác giả cũng quan niệm PC là bao gồm cả đặc điểm thể chất, ngoại hình, tâm lý,… Tác giả N. Usacov (1984) yêu cầu muốn hành nghề bác sĩ cần có các PC như: óc quan sát, khiêm tốn, trung thực, vô tư, quên mình, vị tha, đạo đức cao cả, uy tín. Xcachcov chỉ ra rằng một bác sĩ quân y khi ra trường cần có các PC như: hiểu biết nhiều, rộng; có kiến thức vững chắc về tâm - sinh lí và dự phòng bệnh tâm thần; phải nắm được những phương pháp và cách thức làm việc với con người; yêu nghề y và trung thành với nghề nghiệp [31, tr. Cue (1985) cho rằng bác sỹ lâm sàng phải có 3 PC quan trọng nhất là: Sự chín chắn, cẩn thận; Hiểu biết xã hội, năng lực nghề nghiệp và Tự chủ.
Benyamini và các cộng sự (1987), cho rằng bác sĩ lâm sàng cần phải có các PC: sẵn sàng giúp đỡ và hợp tác với đồng nghiệp, có quan hệ tốt với bệnh nhân, siêng năng, óc sáng kiến và độc lập, có kỷ luật, yêu nghề, khiêm tốn, tin cậy, có tinh thần trách nhiệm, mềm dẻo, tỉ mỉ và sâu sắc (dẫn theo Nguyễn Sinh Phúc) [57, tr. Sulval (1994), đã khắc họa mô hình nhân cách bác sỹ với 15 PC cơ bản: yêu thương bệnh nhân; có tinh thần trách nhiệm; hết lòng phục vụ bệnh nhân; trung thực; khéo léo, tinh tế khi giao tiếp với bệnh nhân. Lebeđinxki và V. Myaxishev (1996) khi nghiên cứu tâm lý người thầy thuốc Xã hội chủ nghĩa đã đưa ra các tiêu chuẩn về PCTL của người thầy thuốc, đó là: ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ đối với người bệnh; cởi mở khi tiếp xúc; biết tự kiềm chế một cách hợp lý giữa mềm mỏng và kiên quyết; kết hợp quan sát và quyết đoán.
Các tác giả cũng đưa ra một một số PC bác sĩ cần phải có như: tính tổ chức; trật tự, ngăn nắp, tổ chức, văn hóa chung và văn hóa nghề nghiệp. Về lĩnh vực giáo dục, dạy học những nghiên cứu của tác giả D. Xamuilenco (1961) nhấn mạnh người giáo viên đề cao PC như: tính công tâm, tính yêu cầu cao, nghiêm nghị, thái độ như nhau với tất cả học sinh (dẫn theo Lê Anh Chiến, [8, tr. Xlatvenin, coi các chỉ số tâm lý của sự hình thành nghề chính là sự thể hiện mô hình nhân cách của người giáo viên như: những đặc tính và biểu hiện về mặt xu hướng tư tưởng, xu hướng nghề và nhận thức nghề; những yêu cầu cần thiết để hình thành những xu hướng đó trong quá trình đào tạo; khối lượng và thành phần của công tác đào tạo chuyên về nghề; nội dung và phương pháp đào tạo về nghiệp vụ [32, tr.
Climov đã chỉ ra PC nhân cách cơ bản của giáo viên gồm: PC tư tưởng, đạo đức; PC ý chí; PC năng lực (khả năng sử dụng ngôn ngữ, khả năng hiểu tâm lý học sinh, khả năng phán đoán, khả năng tổ chức, khả năng tư duy nhanh nhạy) [10, tr. Cudomina bổ sung thêm PC người giáo viên cần có là thế giới quan duy vật biện chứng, lí tưởng cộng sản chủ nghĩa, đạo đức nghề nghiệp, tình cảm với hoạt động nghề nghiệp. Gônôbôlin (1976, 1979) trong cuốn sách “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên” có đề cập các PCTL phù hợp với công việc giảng dạy như: Đạo đức, chí hướng, hứng thú, năng lực, quá trình nhận thức, hoạt động trí tuệ, tình cảm trong lao động và ý chí [22, tr. Đáng chú ý, khi nêu lên những PC của người giáo viên, các tác nói trên chủ yếu tập trung vào PC tâm lý - nhân cách.
Về lĩnh vực tư pháp, một số tác giả như A. Chupharôpxki (1997) đã nghiên cứu về PCTL trong hoạt động tư pháp, đấu tranh phòng chống tội phạm và giáo dục cải tạo phạm nhân. Côvaliôv (1968) nêu ra PC nhà quản giáo cần có là: tư tưởng chính trị, chủ nghĩa nhân văn đối với con người, thái độ nhân văn với phạm nhân; ý chí cứng rắn; sự tế nhị, khéo léo đối xử, năng lực sư phạm [11, tr. Đulôv (1975) đã nghiên cứu, nêu ra các tiêu chuẩn về PCTL của điều tra viên, đó là: tư tưởng vững vàng, đạo đức tốt; khả năng tư duy tốt; tính kiên định; tính cương quyết; tính kiềm chế.
Chupharôpxki (1997) đã đưa ra PC của thẩm phán, đó là: tinh thần trách nhiệm cao; công bằng, vô tư; nhạy cảm; khả năng hiểu rõ con người; tính tự chủ; tính điềm đạm [103, tr.