Luận Án Tiến Sĩ Tâm Lý Học: Phẩm Chất Tâm Lý Cơ Bản Của Hướng Dẫn Viên Du Lịch

Hướng dẫn thực hành Phẩm Chất Tâm Lý Cần Có Ở Hướng Dẫn Viên Du Lịch từng bước, dễ hiểu, kèm hình ảnh minh họa, áp dụng ngay được

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016

218
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU NHỮNG PHẨM CHẤT TÂM LÝ CƠ BẢN CỦA HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH

1.1. Tổng quan nghiên cứu về phẩm chất tâm lý và phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch

1.2. Những nghiên cứu ở nước ngoài về phẩm chất tâm lý gắn liền với hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp

1.3. Những nghiên cứu ở trong nước về phẩm chất tâm lý đáp ứng yêu cầu của hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp

1.4. Những nghiên cứu về phẩm chất tâm lý của HDVDL

1.5. Những quan điểm cơ bản được quán triệt trong nghiên cứu phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch

1.6. Quan điểm về quan hệ giữa tâm lý và hoạt động

1.7. Mô hình “Tam giác hướng nghiệp” của K. Platonov và định hướng nghiên cứu phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch

1.8. Lí luận phẩm chất tâm lý cơ bản

1.9. Phẩm chất tâm lý

1.10. Phẩm chất tâm lý cơ bản

1.11. Lí luận về hướng dẫn viên du lịch

1.12. Khái niệm hướng dẫn viên du lịch

1.13. Chức năng của hướng dẫn viên du lịch

1.14. Nhiệm vụ của hướng dẫn viên du lịch

1.15. Vai trò của hướng dẫn viên du lịch

1.16. Đặc điểm hoạt động của hướng dẫn viên du lịch

1.17. Yêu cầu hoạt động hướng dẫn của hướng dẫn viên du lịch

1.18. Phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch

1.19. Khái niệm phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch

1.20. Các thành phần cấu thành phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch

1.21. Các yếu tố ảnh hưởng phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch

1.22. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Tổ chức nghiên cứu

2.2. Giai đoạn 1: Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu về phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch

2.3. Giai đoạn 2: Nghiên cứu thực trạng phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch

2.4. Giai đoạn 3: Đề xuất biện pháp tác động nhằm phát triển các phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch

2.5. Các phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

2.5.2. Phương pháp chuyên gia

2.5.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

2.5.4. Phương pháp phỏng vấn sâu

2.5.5. Phương pháp quan sát

2.5.6. Phương pháp phân tích chân dung tâm lý

2.5.7. Phương pháp thực nghiệm

2.5.8. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

2.6. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ NHỮNG PHẨM CHẤT TÂM LÝ CƠ BẢN CỦA HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH

3.1. Thực trạng chung của những phẩm chất tâm lý cơ bản ở hướng dẫn viên du lịch

3.2. Mức độ cần thiết của những phẩm chất tâm lý cơ bản ở HDVDL

3.3. Mức độ thể hiện của những phẩm chất tâm lý cơ bản ở HDVDL

3.4. Mức độ hiệu quả của những phẩm chất tâm lý cơ bản ở HDVDL

3.5. Thực trạng mức độ biểu hiện của nhóm phẩm chất tâm lý ở hướng dẫn viên du lịch

3.6. Thực trạng mức độ biểu hiện của nhóm phẩm chất tâm lý về xu hướng ở hướng dẫn viên du lịch

3.7. Thực trạng mức độ biểu hiện của nhóm phẩm chất tâm lý về tính cách ở hướng dẫn viên du lịch

3.8. Thực trạng mức độ biểu hiện của nhóm phẩm chất tâm lý về kinh nghiệm ở hướng dẫn viên du lịch

3.9. Thực trạng mức độ biểu hiện của nhóm phẩm chất tâm lý về phong cách hướng dẫn du lịch ở hướng dẫn viên du lịch

3.10. Phẩm chất tâm lý cơ bản của HDVDL qua một số chân dung tâm lý điển hình

3.11. Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến những PCTL cơ bản của HDVDL

3.12. Ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến những PCTLCB của HDVDL

3.13. Ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến những PCTLCB của HDVDL

3.14. Các biện pháp góp phần phát triển các PCTLCB của HDVDL

3.15. Kết quả thử nghiệm tác động nâng cao một số PCTL ở HDVDL

3.16. Kết quả mức độ 5 PCTLCB quy ra điểm số trước và sau thực nghiệm

3.17. So sánh mức độ 5 PCTLCB ở HDVDL trước và sau tác động

3.18. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về phẩm chất tâm lý cần có ở hướng dẫn viên du lịch

Nghiên cứu về phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch (HDVDL) là một lĩnh vực quan trọng trong tâm lý học ứng dụng. Các phẩm chất này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả công việc mà còn tác động đến trải nghiệm của khách du lịch. Theo các nghiên cứu, những phẩm chất như tính kiên nhẫn, sự tự tin, và khả năng giao tiếp là rất cần thiết. HDVDL cần có khả năng giải quyết vấn đềthích ứng với các tình huống khác nhau. Điều này giúp họ duy trì sự hài lòng của khách hàng và tạo ra những trải nghiệm tích cực. Một nghiên cứu cho thấy, HDVDL có tính linh hoạtsự sáng tạo trong công việc thường nhận được phản hồi tích cực từ khách du lịch. Những phẩm chất này không chỉ giúp họ trong việc tổ chức các hoạt động mà còn trong việc xây dựng mối quan hệ với khách hàng.

1.1. Các phẩm chất tâm lý cơ bản

Các phẩm chất tâm lý cơ bản của HDVDL bao gồm tính trách nhiệm, sự nhiệt tình, và khả năng làm việc nhóm. Những phẩm chất này giúp HDVDL thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, từ việc cung cấp thông tin đến việc xử lý các tình huống phát sinh. Tính trách nhiệm là yếu tố quan trọng, giúp HDVDL cảm thấy có nghĩa vụ với công việc và khách hàng. Sự nhiệt tình không chỉ tạo ra bầu không khí tích cực mà còn khuyến khích khách du lịch tham gia vào các hoạt động. Khả năng làm việc nhóm cũng rất cần thiết, vì HDVDL thường phải phối hợp với nhiều bên liên quan trong ngành du lịch.

1.2. Tác động của phẩm chất tâm lý đến hiệu quả công việc

Nghiên cứu cho thấy, phẩm chất tâm lý có tác động lớn đến hiệu quả công việc của HDVDL. Những HDVDL có khả năng giao tiếp tốtsự đồng cảm thường tạo ra trải nghiệm tích cực cho khách du lịch. Họ có khả năng hiểu và đáp ứng nhu cầu của khách hàng, từ đó nâng cao sự hài lòng và lòng trung thành của khách. Sự tự tin cũng là một yếu tố quan trọng, giúp HDVDL thể hiện bản thân một cách thuyết phục và tạo dựng niềm tin với khách hàng. Điều này không chỉ giúp họ thành công trong công việc mà còn góp phần nâng cao hình ảnh của ngành du lịch Việt Nam.

II. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch

Các yếu tố ảnh hưởng đến phẩm chất tâm lý của HDVDL có thể được chia thành hai nhóm chính: yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Yếu tố chủ quan bao gồm kinh nghiệm cá nhân, động lực làm việc, và tính cách. Những HDVDL có kinh nghiệm phong phú thường có khả năng xử lý tình huống tốt hơn và tạo ra những trải nghiệm tích cực cho khách. Động lực làm việc cũng đóng vai trò quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến sự nhiệt tình và trách nhiệm trong công việc. Yếu tố khách quan bao gồm môi trường làm việc, chính sách đào tạo, và các yếu tố văn hóa. Môi trường làm việc tích cực và chính sách đào tạo hợp lý sẽ giúp HDVDL phát triển các phẩm chất tâm lý cần thiết.

2.1. Yếu tố chủ quan

Yếu tố chủ quan như tính cáchkinh nghiệm cá nhân có ảnh hưởng lớn đến phẩm chất tâm lý của HDVDL. Những người có tính cách hướng ngoại thường dễ dàng giao tiếp và tạo dựng mối quan hệ với khách hàng. Ngược lại, những người có tính cách hướng nội có thể gặp khó khăn trong việc tương tác. Kinh nghiệm cá nhân cũng rất quan trọng, vì những HDVDL đã trải qua nhiều tình huống khác nhau sẽ có khả năng ứng phó tốt hơn với các tình huống phát sinh trong công việc.

2.2. Yếu tố khách quan

Yếu tố khách quan như môi trường làm việcchính sách đào tạo cũng ảnh hưởng đến phẩm chất tâm lý của HDVDL. Một môi trường làm việc tích cực, nơi mà HDVDL được khuyến khích phát triển và học hỏi, sẽ giúp họ nâng cao các phẩm chất tâm lý cần thiết. Chính sách đào tạo hợp lý, bao gồm các khóa học về kỹ năng giao tiếpquản lý cảm xúc, sẽ giúp HDVDL phát triển toàn diện hơn trong công việc.

III. Đề xuất biện pháp nâng cao phẩm chất tâm lý cho hướng dẫn viên du lịch

Để nâng cao phẩm chất tâm lý của HDVDL, cần thực hiện một số biện pháp cụ thể. Đầu tiên, các công ty du lịch nên tổ chức các khóa đào tạo thường xuyên về kỹ năng giao tiếp, quản lý cảm xúc, và kỹ năng giải quyết vấn đề. Thứ hai, cần tạo ra một môi trường làm việc tích cực, nơi mà HDVDL cảm thấy được khuyến khích và hỗ trợ trong công việc. Cuối cùng, việc xây dựng một hệ thống đánh giá và phản hồi thường xuyên sẽ giúp HDVDL nhận biết được điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, từ đó có kế hoạch cải thiện phù hợp.

3.1. Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng

Các công ty du lịch cần tổ chức các khóa đào tạo và bồi dưỡng định kỳ cho HDVDL. Những khóa học này nên tập trung vào các kỹ năng cần thiết như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lãnh đạo, và kỹ năng giải quyết vấn đề. Việc này không chỉ giúp HDVDL nâng cao năng lực mà còn tạo cơ hội để họ chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau. Đào tạo thường xuyên sẽ giúp HDVDL tự tin hơn trong công việc và cải thiện chất lượng dịch vụ.

3.2. Tạo môi trường làm việc tích cực

Môi trường làm việc tích cực là yếu tố quan trọng giúp HDVDL phát triển phẩm chất tâm lý. Các công ty nên khuyến khích sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa các HDVDL. Việc tổ chức các hoạt động nhóm, sự kiện giao lưu sẽ giúp tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa các nhân viên. Hơn nữa, việc công nhận và khen thưởng những đóng góp của HDVDL sẽ tạo động lực cho họ làm việc hiệu quả hơn.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ tâm lý học những phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU NHỮNG PHẨM CHẤT TÂM LÝ CƠ BẢN CỦA HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH 1. Tổng quan nghiên cứu về phẩm chất tâm lý và phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài về phẩm chất tâm lý gắn liền với hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp Ở các nước phương Tây, do sớm diễn ra quá trình công nghiệp hóa, sự phân công lao động xã hội trở nên phân hóa rõ rệt giữa những người có năng lực phù hợp công việc và những người không có năng lực đáp ứng yêu cầu của hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp, nên nảy ra vấn đề nghiên cứu những đặc điểm thể chất và phẩm chất tâm lý của cá nhân như thế nào thì đáp ứng tốt yêu cầu của mỗi lĩnh vực hoạt động,… Trong bối cảnh đó, F. Parsons (1908) đã nghiên cứu, công bố bộ “Test và bảng hỏi để xác định năng lực sinh học, nhằm mục đích hướng nghiệp”; R.

Roe (1914) nghiên cứu và công bố bài viết về “Vai trò của động cơ trong sự hình thành nghề và những phẩm chất nghề”. Như vậy từ rất sớm, tác giả đã tách ra, nghiên cứu riêng mặt tâm lý ảnh hưởng đến hoạt động nghề nghiệp như thế nào?; R. Bachman (1942) đã đưa ra bảng “Các tiêu chí đánh giá về người lao động”. Trong đó, tác giả đã nhấn mạnh đến các mặt năng lực, tính kỷ luật, trách nhiệm, quan hệ với đồng nghiệp,…; D.

Super (1958) có công trình “Quá trình nhận thức về nghề của cá nhân”. Tác giả đã chỉ ra, nhận thức về nghề là một quá trình không đơn giản; cá nhân càng có nhận thức sâu sắc, đầy đủ về những đòi hỏi của nghề và tự nhận thức rõ về bản thân đối với nghề, thì làm nghề mới hiệu quả; Đáng chú ý nhất là công trình “Test chẩn đoán nhân cách để phục vụ cho việc tư vấn nghề” (F. Trong đó, ông đã mô tả yêu cầu của mỗi nghề là khác nhau và những phẩm chất nhân cách phù hợp với mỗi lĩnh vực nghề nghiệp; từ đó tìm kiếm các trắc nghiệm phát hiện các đặc điểm nhân cách ưu thế phù hợp với các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau,… Từ các nghiên cứu khái quát chung ban đầu, dần hình thành nên các hướng nghiên cứu đi sâu vào từng lĩnh vực hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp. Về lĩnh vực kinh doanh, Ladvsta Mikhail (1994) trong công trình nghiên cứu về giới kinh doanh nước Mỹ, đã đưa ra những PC nhà kinh doanh lý tưởng ở Mỹ; F.

Pollet (1995) đã công bố công trình “Khả năng tiềm tàng của con 8 người trong lao động và phẩm chất của người lãnh đạo” trong đó chỉ ra các PC của nhà lãnh đạo các doanh nghiệp phải vượt trội hơn người bình thường trong quản lý, lãnh đạo; J. Meyer (2011) trong bài báo “Phẩm chất của một nhà kinh doanh thành công” cho rằng nhà kinh doanh thành công thường có các phẩm chất đặc trưng như: có đầu óc nhạy bén, sắc sảo; có đầu óc mạo hiểm, dám chấp nhận rủi ro; tự tin vào năng lực của bản thân; đạo đức (chữ tín, lòng trung thực, lòng tin); không cam chịu số phận, không bằng lòng với hiện tại, chấp nhận thách thức với tương lai; thích sự cạnh tranh (dẫn theo L. Về lĩnh vực lãnh đạo/quản lý, A. Côvaliôv (1976) cho rằng, đánh giá nhân cách người lãnh đạo cần đặc biệt chú ý các PC như: PC đạo đức - chính trị; PC công tác, hiệu quả của hoạt động, trình độ đào tạo [11, tr.

Stogdill (1976) đã nghiên cứu sâu về những PC của người lãnh đạo và xác định người lãnh đạo cần 5 đặc điểm về thể chất (chiều cao, ngoại hình, sức khỏe,…), 4 đặc điểm về tri thức, 16 đặc điểm về nhân cách, 9 đặc điểm về xã hội và 6 đặc điểm tính cách,… Ông cho rằng, từng đặc điểm riêng lẻ có thể không có ý nghĩa, nhưng một nhóm đặc điểm thì liên quan rất chặt chẽ với sự thành công [96, tr. Như vậy, tác giả coi PC của người lãnh đạo là bao gồm cả mặt thể chất, vóc dáng ngoại hình đến nhân cách – tâm lý,… Tác giả V. Sêpen (1980) trong tác phẩm “Tâm lý học trong quản lý sản xuất” đã nêu ra các PC của người quản lý/ lãnh đạo gồm: PC chính trị, đạo đức; PC tổ chức, PC nghề nghiệp; PC tâm - sinh lý [69, tr. Lêbêđév (1982) trong giáo trình tâm lý học kinh doanh đã đề cập PC nhà quản lý trong kinh doanh, đó là: Tính độc lập, tự chủ; năng động, nhạy bén; làm việc có mục đích, kế hoạch; có ý chí vượt khó; dũng cảm, dám mạo hiểm, chấp nhận rủi ro; trung thực; có thiện chí, tôn trọng con người; cần cù chịu khó bền bỉ; tiết kiệm; biết giúp đỡ lẫn nhau; sẵn sàng hợp tác; có ý thức trách nhiệm; luôn giữ vững nguyên tắc quản lý; linh hoạt, tháo vát, sáng tạo; có lòng tin trong kinh doanh [20, tr.

Gaston Courtois (1990) đã chỉ ra rằng người lãnh đạo/ quản lý cần có 17 PC như: trí tuệ năng động, khả năng quan sát, lòng nhiệt tình, tính quyết đoán, tính trung thực, lòng nhân ái với mọi người, sự kiên nhẫn,… S. Bartlett (1994), trong cuốn sách “8 phẩm chất của nhà quản lý hiện đại” cho rằng nhà quản lý hiện đại cần có những PC như: có tầm nhìn xa trông rộng; dám nhận trách nhiệm, đương 9 đầu với những thử thách, chấp nhận thay đổi; sự tinh tế, khéo léo, linh hoạt trong giao tiếp; thích nghi nhanh với các thay đổi; tinh thần lạc quan, có cái nhìn tích cực với công việc; tư duy sáng tạo [2, tr. Về lĩnh vực y học, M. Simpson (1972) cho rằng sinh viên ngành y cần có một số PC như: trí tuệ, ham nghiên cứu khoa học, có sức khỏe, quan tâm đến mọi người, khách quan, thông cảm với mọi người, ngoại hình dễ chịu, thích ứng tốt, bình tĩnh, thấu hiểu ẩn ý người khác [56, tr.

Ở đây tác giả cũng quan niệm PC là bao gồm cả đặc điểm thể chất, ngoại hình, tâm lý,… Tác giả N. Usacov (1984) yêu cầu muốn hành nghề bác sĩ cần có các PC như: óc quan sát, khiêm tốn, trung thực, vô tư, quên mình, vị tha, đạo đức cao cả, uy tín. Xcachcov chỉ ra rằng một bác sĩ quân y khi ra trường cần có các PC như: hiểu biết nhiều, rộng; có kiến thức vững chắc về tâm - sinh lí và dự phòng bệnh tâm thần; phải nắm được những phương pháp và cách thức làm việc với con người; yêu nghề y và trung thành với nghề nghiệp [31, tr. Cue (1985) cho rằng bác sỹ lâm sàng phải có 3 PC quan trọng nhất là: Sự chín chắn, cẩn thận; Hiểu biết xã hội, năng lực nghề nghiệp và Tự chủ.

Benyamini và các cộng sự (1987), cho rằng bác sĩ lâm sàng cần phải có các PC: sẵn sàng giúp đỡ và hợp tác với đồng nghiệp, có quan hệ tốt với bệnh nhân, siêng năng, óc sáng kiến và độc lập, có kỷ luật, yêu nghề, khiêm tốn, tin cậy, có tinh thần trách nhiệm, mềm dẻo, tỉ mỉ và sâu sắc (dẫn theo Nguyễn Sinh Phúc) [57, tr. Sulval (1994), đã khắc họa mô hình nhân cách bác sỹ với 15 PC cơ bản: yêu thương bệnh nhân; có tinh thần trách nhiệm; hết lòng phục vụ bệnh nhân; trung thực; khéo léo, tinh tế khi giao tiếp với bệnh nhân. Lebeđinxki và V. Myaxishev (1996) khi nghiên cứu tâm lý người thầy thuốc Xã hội chủ nghĩa đã đưa ra các tiêu chuẩn về PCTL của người thầy thuốc, đó là: ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ đối với người bệnh; cởi mở khi tiếp xúc; biết tự kiềm chế một cách hợp lý giữa mềm mỏng và kiên quyết; kết hợp quan sát và quyết đoán.

Các tác giả cũng đưa ra một một số PC bác sĩ cần phải có như: tính tổ chức; trật tự, ngăn nắp, tổ chức, văn hóa chung và văn hóa nghề nghiệp. Về lĩnh vực giáo dục, dạy học những nghiên cứu của tác giả D. Xamuilenco (1961) nhấn mạnh người giáo viên đề cao PC như: tính công tâm, tính yêu cầu cao, nghiêm nghị, thái độ như nhau với tất cả học sinh (dẫn theo Lê Anh Chiến, [8, tr. Xlatvenin, coi các chỉ số tâm lý của sự hình thành nghề chính là sự thể hiện mô hình nhân cách của người giáo viên như: những đặc tính và biểu hiện về mặt xu hướng tư tưởng, xu hướng nghề và nhận thức nghề; những yêu cầu cần thiết để hình thành những xu hướng đó trong quá trình đào tạo; khối lượng và thành phần của công tác đào tạo chuyên về nghề; nội dung và phương pháp đào tạo về nghiệp vụ [32, tr.

Climov đã chỉ ra PC nhân cách cơ bản của giáo viên gồm: PC tư tưởng, đạo đức; PC ý chí; PC năng lực (khả năng sử dụng ngôn ngữ, khả năng hiểu tâm lý học sinh, khả năng phán đoán, khả năng tổ chức, khả năng tư duy nhanh nhạy) [10, tr. Cudomina bổ sung thêm PC người giáo viên cần có là thế giới quan duy vật biện chứng, lí tưởng cộng sản chủ nghĩa, đạo đức nghề nghiệp, tình cảm với hoạt động nghề nghiệp. Gônôbôlin (1976, 1979) trong cuốn sách “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên” có đề cập các PCTL phù hợp với công việc giảng dạy như: Đạo đức, chí hướng, hứng thú, năng lực, quá trình nhận thức, hoạt động trí tuệ, tình cảm trong lao động và ý chí [22, tr. Đáng chú ý, khi nêu lên những PC của người giáo viên, các tác nói trên chủ yếu tập trung vào PC tâm lý - nhân cách.

Về lĩnh vực tư pháp, một số tác giả như A. Chupharôpxki (1997) đã nghiên cứu về PCTL trong hoạt động tư pháp, đấu tranh phòng chống tội phạm và giáo dục cải tạo phạm nhân. Côvaliôv (1968) nêu ra PC nhà quản giáo cần có là: tư tưởng chính trị, chủ nghĩa nhân văn đối với con người, thái độ nhân văn với phạm nhân; ý chí cứng rắn; sự tế nhị, khéo léo đối xử, năng lực sư phạm [11, tr. Đulôv (1975) đã nghiên cứu, nêu ra các tiêu chuẩn về PCTL của điều tra viên, đó là: tư tưởng vững vàng, đạo đức tốt; khả năng tư duy tốt; tính kiên định; tính cương quyết; tính kiềm chế.

Chupharôpxki (1997) đã đưa ra PC của thẩm phán, đó là: tinh thần trách nhiệm cao; công bằng, vô tư; nhạy cảm; khả năng hiểu rõ con người; tính tự chủ; tính điềm đạm [103, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phẩm Chất Tâm Lý Cần Có Ở Hướng Dẫn Viên Du Lịch" khám phá những phẩm chất tâm lý thiết yếu mà một hướng dẫn viên du lịch cần có để tạo ra trải nghiệm tích cực cho du khách. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của sự đồng cảm, khả năng giao tiếp và sự linh hoạt trong việc xử lý các tình huống khác nhau. Những phẩm chất này không chỉ giúp hướng dẫn viên xây dựng mối quan hệ tốt với khách hàng mà còn góp phần nâng cao sự hài lòng và lòng trung thành của du khách.

Để hiểu rõ hơn về cách mà hình ảnh điểm đến và giá trị tâm lý xã hội ảnh hưởng đến lòng trung thành của du khách, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh hình ảnh điểm đến và giá trị tâm lý xã hội tác động tới lòng trung thành của du khách một nghiên cứu tại thành phố đà lạt.

Ngoài ra, để tìm hiểu về mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro và ý định quay lại của khách du lịch, bài viết Luận án mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro hạnh phúc chủ quan và ý định quay lại của khách du lịch tại việt nam trường hợp nghiên cứu tại thành phố hồ chí minh sẽ cung cấp cho bạn những thông tin hữu ích.

Cuối cùng, để hiểu rõ hơn về tác động của hình ảnh điểm đến đến sự hài lòng của khách du lịch, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh tác động của hình ảnh điểm đến và giá trị cá nhân đến chất lượng trải nghiệm và sự hài lòng của khách du lịch. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn sâu sắc hơn về ngành du lịch.