Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Những phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch" do nghiên cứu sinh Phí Công Mạnh thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Mạc Văn Trang. Luận án thuộc chuyên ngành Tâm lý học chuyên ngành, mã số 62 31 04 01, bảo vệ năm 2016.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Về mặt lý luận, trong bối cảnh toàn cầu hóa và phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, việc nghiên cứu các phẩm chất tâm lý cá nhân nhằm đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm của tâm lý học chuyên ngành. Tại Việt Nam, nhiều công trình đã đi sâu vào các lĩnh vực như quản lý - kinh doanh, y học quân sự, cảnh sát hình sự, điều tra viên, cán bộ quản giáo hay mã dịch viên. Tuy nhiên, trong ngành du lịch – một ngành kinh tế có tính cạnh tranh cao và hội nhập quốc tế sâu rộng – việc cung cấp cơ sở tâm lý học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, tuyển chọn và quản lý đội ngũ hướng dẫn viên du lịch (HDVDL) vẫn còn nhiều bất cập. Câu hỏi về những phẩm chất tâm lý cụ thể nào tương thích với hoạt động hướng dẫn du lịch và phương thức đo nghiệm các phẩm chất đó trên thực tế vẫn chưa được giải quyết một cách toàn diện.

Về mặt thực tiễn, số liệu từ Tổng cục Du lịch cho thấy mỗi năm ngành du lịch cần bổ sung gần 10.000 hướng dẫn viên, trong khi các cơ sở đào tạo chuyên ngành chỉ cung cấp khoảng 5.000 sinh viên tốt nghiệp (với trên 60% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên). Dù qua đào tạo dài hạn, phần lớn nhân sự khi tuyển dụng vào doanh nghiệp lữ hành đều phải đào tạo lại hoặc đào tạo bổ sung về phẩm chất, kỹ năng và ngoại ngữ. Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch chỉ ra rằng các cơ sở đào tạo còn ít chú trọng nghiên cứu phẩm chất tâm lý của người hướng dẫn, thiếu sự thống nhất trong quy trình rèn luyện phẩm chất nghề nghiệp, chủ yếu dừng ở lý thuyết chung chung mà chưa gắn với thực tiễn hành nghề. Đồng thời, tình trạng hướng dẫn viên vi phạm phẩm chất nghề nghiệp (chán nghề, bỏ nghề, thiếu trách nhiệm, thiếu kiên trì, không trung thực, giảm sút nhiệt tình) có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của du khách và hình ảnh điểm đến Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về những phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch; trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm định hướng và phát triển các phẩm chất tâm lý cơ bản phù hợp với nghề, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động hướng dẫn du lịch.

Luận án thực hiện 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xây dựng cơ sở lý luận về phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch.
  2. Khảo sát và đánh giá thực trạng biểu hiện mức độ những phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến các phẩm chất tâm lý cơ bản này.
  3. Đề xuất một số biện pháp và tiến hành thực nghiệm tác động nhằm nâng cao những phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch.

Giả thuyết khoa học

Hoạt động hướng dẫn du lịch là dạng hoạt động tương tác người – người đặc thù. Để thực hiện hiệu quả, hướng dẫn viên du lịch đòi hỏi phải đạt mức độ cao ở các phẩm chất tâm lý về xu hướng, tính cách, kinh nghiệm và phong cách hướng dẫn du lịch. Tuy nhiên trên thực tế, mức độ thể hiện và mức độ hiệu quả của các phẩm chất tâm lý cơ bản này ở đội ngũ hướng dẫn viên du lịch còn nhiều hạn chế, thể hiện rõ nhất ở sự suy giảm tình cảm yêu nghề, giảm sút hứng thú làm việc với du khách, thiếu tinh thần trách nhiệm với doanh nghiệp lữ hành và khách du lịch, hạn chế về kỹ năng xử lý tình huống, thiếu cởi mở và thân thiện. Những hạn chế này chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, trong đó tác động mạnh nhất là công tác tập huấn, bồi dưỡng của doanh nghiệp lữ hành và ý thức tự rèn luyện của bản thân hướng dẫn viên. Việc áp dụng biện pháp bồi dưỡng, tập huấn chuyên biệt là con đường phù hợp và đem lại hiệu quả trong điều kiện hoạt động thực tế.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện và mức độ của những phẩm chất tâm lý cơ bản ở hướng dẫn viên du lịch trong hoạt động hướng dẫn du lịch.
  • Khách thể nghiên cứu: Tổng số 364 khách thể, bao gồm:
    • 50 cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp lữ hành.
    • 150 hướng dẫn viên du lịch đang hành nghề tại các công ty lữ hành.
    • 150 sinh viên năm thứ 4 chuyên ngành hướng dẫn du lịch đang thực tập tại các doanh nghiệp lữ hành.
    • 14 khách du lịch tại một số điểm tham quan du lịch.
  • Phạm vi và địa bàn nghiên cứu:
    • Địa bàn Hà Nội: Khảo sát tại Công ty Du lịch Vietravel, Công ty Du lịch Đất Việt, Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Khát Vọng Việt, Công ty Du lịch Hà Nội Redtour; khảo sát sinh viên năm cuối tại Đại học Công nghiệp Hà Nội, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, Đại học Văn hóa Hà Nội.
    • Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh: Khảo sát tại Công ty Cổ phần Truyền thông Du lịch Việt, Công ty Dịch vụ Lữ hành Saigontourist, Công ty TNHH Dịch vụ Du lịch Đất Nước Việt, Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Phượng Hoàng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu về phẩm chất tâm lý nghề nghiệp trên thế giới

Nghiên cứu phẩm chất tâm lý gắn liền với hoạt động chuyên môn bắt nguồn từ đòi hỏi của phân công lao động xã hội trong các xã hội công nghiệp phương Tây. F. Parsons (1908) đã công bố bộ trắc nghiệm và bảng hỏi nhằm xác định năng lực sinh học phục vụ hướng nghiệp; R. Roe (1914) phân tích vai trò của động cơ trong quá trình hình thành nghề và phẩm chất nghề; R. Bachman (1942) xây dựng các tiêu chí đánh giá người lao động qua năng lực, tính kỷ luật, trách nhiệm và quan hệ đồng nghiệp; D. Super (1958) phân tích quá trình nhận thức nghề; F. Baumgarten (1960) xây dựng trắc nghiệm chẩn đoán nhân cách phục vụ tư vấn nghề.

Đi sâu vào từng lĩnh vực hoạt động:

  • Lĩnh vực kinh doanh và quản lý: Ladvsta Mikhail (1994) nghiên cứu phẩm chất giới doanh nhân Mỹ; F. Pollet (1995) khảo sát phẩm chất người lãnh đạo doanh nghiệp; J. Meyer (2011) xác định các đặc trưng của nhà kinh doanh thành công; A. Côvaliôv (1976) phân tích phẩm chất chính trị, đạo đức và hiệu quả công tác của người lãnh đạo; R. Stogdill (1976) phân loại hệ thống đặc điểm của người lãnh đạo gồm thể chất, tri thức, nhân cách, xã hội và tính cách; V. Sêpen (1980) đề xuất nhóm phẩm chất chính trị, tổ chức, nghề nghiệp và tâm - sinh lý; V. Lêbêđév (1982) hệ thống hóa các phẩm chất của nhà quản lý kinh doanh; Gaston Courtois (1990) và S. Bartlett (1994) tổng kết các phẩm chất điều hành hiện đại.
  • Lĩnh vực y học: M. Simpson (1972), N. Usacov (1984), V. Xcachcov, Cue (1985), Benyamini và cộng sự (1987), Sulval (1994), Lebeđinxki và V. Myaxishev (1996) đã mô tả hệ thống phẩm chất tâm lý của người thầy thuốc và bác sĩ lâm sàng, nhấn mạnh tinh thần trách nhiệm, sự kiên nhẫn, lòng nhân ái, tính tự chủ và khả năng giao tiếp.
  • Lĩnh vực giáo dục và tư pháp: D. Xamuilenco (1961), V. Xlatvenin, E. Climov, N. Cudomina, Ph. Gônôbôlin (1976, 1979) nghiên cứu các phẩm chất tâm lý của người giáo viên; trong khi A. Côvaliôv (1968), A. Đulôv (1975) và A. Chupharôpxki (1997) phân tích phẩm chất của điều tra viên, thẩm phán và cán bộ quản giáo.
  • Lĩnh vực kỹ thuật và quân sự: Các nhà tâm lý học Đại học Tổng hợp Lêningrat xây dựng 109 chỉ tiêu phẩm chất kỹ sư; Phrunde, Evđôkimôp và Egorốp (1983) nghiên cứu phẩm chất tâm lý của cán bộ hải quân, phi công quân sự và trắc thủ kỹ thuật.

Các nghiên cứu trong nước về phẩm chất tâm lý nghề nghiệp

Tại Việt Nam, nghiên cứu tâm lý học nghề nghiệp được phát triển qua các công trình của Trần Trọng Thủy (1997) về xây dựng họa đồ nghề nghiệp (Professiorgramme); Mạc Văn Trang và cộng sự (1993) về đặc điểm tâm lý cá nhân phù hợp một số nghề (y tế, giáo viên mầm non, tiểu học, bán hàng, lái xe, khảm trai).

Các công trình chuyên sâu theo ngành nghề gồm:

  • Sư phạm: Lê Văn Hồng (2008), Khăm Kẹo Vông Phi La, Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị (2009), Ngô Công Hoàn (1997) xác định cấu trúc nhân cách người dạy học và cán bộ quản lý giáo dục.
  • Y tế: Phạm Tất Dong (1989), Nguyễn Văn Nhận và cộng sự (1982), Trần Ninh Giang (1993), Nguyễn Sinh Phúc (1999) xây dựng mô hình nhân cách bác sĩ quân y với 15 phẩm chất.
  • Kinh doanh: Chu Xuân Việt (1993), Nguyễn Thị Tuyết và cộng sự (1997), Nguyễn Thị Phương Anh (1996), Nguyễn Thị Kim Phương (1996) xác định hệ thống phẩm chất tâm lý của giới doanh nhân trẻ Việt Nam.
  • Quân sự và An ninh - Tư pháp: Đinh Hồng Tuấn (1996), Nguyễn Ngọc Phú (1998), Chu Thanh Phong (1998), Bùi Xuân Hoàn, Nguyễn Anh Chiến (2000), Lê Đức Phúc, Nguyễn Đình Gấm (2002); Nguyễn Mai Lan (2000) nghiên cứu 22 phẩm chất tâm lý đặc trưng của mã dịch viên; Đỗ Văn Thọ (2003) nghiên cứu phẩm chất tâm lý cơ bản của cảnh sát hình sự; Trương Công Am (2003) nghiên cứu điều tra viên; Đặng Thanh Nga (2009), Lê Như Hoa, Nguyễn Hữu Duyện (2011), Phạm Đức Chấn, Nguyễn Văn Tập phân tích phẩm chất tâm lý của cán bộ quản giáo trong hoạt động cải tạo phạm nhân.

Các nghiên cứu về phẩm chất của hướng dẫn viên du lịch

Trên thế giới, nghiên cứu về hướng dẫn viên du lịch tập trung vào bốn hướng chính:

  1. Mối quan hệ với khách du lịch: C. Cohen (1985), Speer (1985), Y. Wu (2003), Howard và cộng sự (2004) làm rõ tính nhạy cảm, sự nhẫn nại, thái độ lịch sự, khả năng khơi gợi cảm hứng và tính công bằng trong chăm sóc du khách.
  2. Yêu cầu của doanh nghiệp lữ hành: Georges Taylor (1995), Arnott (2004), Shi (2007) phân tích tinh thần trách nhiệm, kỷ luật giờ giấc, khả năng chịu áp lực và bảo vệ uy tín thương hiệu doanh nghiệp.
  3. Trách nhiệm quốc gia và dân tộc: J. Holloway (1981), Liang (2006), Kong (2007) nhấn mạnh lòng tự tôn dân tộc, sự am hiểu đường lối chính sách, ý thức bảo vệ danh dự đất nước và sự khéo léo xử lý các vấn đề chính trị nhạy cảm.
  4. Tác phong và tính cách nghề nghiệp: K. Hughes (1991), Wang (1997), Ham (2005) nghiên cứu tính cẩn trọng, thái độ lạc quan, vui vẻ, linh hoạt và cởi mở.

Tại Việt Nam, các tác giả Đinh Trung Kiên (1999), Nguyễn Văn Đính và Phạm Hồng Chương (2000), Dương Thu Hà (2001), Nguyễn Hữu Thụ (2009), Đoàn Hương Lan (2010), Dương Đình Bắc (2012) đã tiếp cận yêu cầu nghề nghiệp của hướng dẫn viên dưới góc độ văn hóa, nghiệp vụ du lịch, đạo đức nghề nghiệp và tác phong giao tiếp.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Mặc dù các tài liệu trong và ngoài nước đã phác thảo nhiều đặc trưng nghề nghiệp, các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc liệt kê các phẩm chất cần thiết mang tính mô tả nghiệp vụ hoặc phân tán theo từng khía cạnh rời rạc. Vẫn còn thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống, xác lập khung lý luận thực chứng hoàn chỉnh từ góc độ tâm lý học chuyên ngành; chưa có sự phân định và tích hợp rõ ràng giữa các nhóm thuộc tính tâm lý (xu hướng, tính cách, kinh nghiệm, phong cách) trong mối quan hệ với "tam giác hướng nghiệp"; đồng thời chưa có sự đánh giá đồng bộ trên cả ba chiều kích: mức độ cần thiết, mức độ thể hiện và mức độ hiệu quả trong thực tế hoạt động hướng dẫn du lịch tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và quan điểm tiếp cận

Luận án vận dụng quan điểm tâm lý học hoạt động của K. Platonov: tâm lý con người hình thành, phát triển và bộc lộ thông qua hoạt động và giao tiếp. Chất lượng và hiệu quả hoạt động phụ thuộc vào các thuộc tính nhân cách của chủ thể, đồng thời hoạt động là phương thức để cá nhân hiện thực hóa các thuộc tính tâm lý vào sản phẩm thực tiễn.

Luận án quán triệt mô hình "Tam giác hướng nghiệp" của K. Platonov (1979) làm trục phân tích xuyên suốt. Mô hình này thiết lập mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa ba đỉnh:

  1. Thị trường lao động ngành du lịch: Quy mô, nhu cầu xã hội, sự biến động và áp lực cạnh tranh của ngành kinh tế du lịch.
  2. Nghề và yêu cầu của nghề hướng dẫn du lịch: Hệ thống tiêu chuẩn nghề nghiệp, chức năng, nhiệm vụ, vai trò và đặc điểm hoạt động hướng dẫn.
  3. Cá nhân và đặc điểm tâm lý cá nhân: Hệ thống phẩm chất tâm lý, thể chất và điều kiện chủ quan của người hướng dẫn viên.
                  [Thị trường lao động]
                         /      \
      (Giáo dục nghề)   /        \   (Tư vấn nghề)
                       /          \
                      /            \
[Nghề & Yêu cầu nghề] -------------- [Cá nhân & Đặc điểm cá nhân]
                             (Tuyển chọn nghề)

Luận án đồng thời tuân thủ các nguyên tắc phương pháp luận: nguyên tắc hoạt động và giao tiếp, nguyên tắc tiếp cận hệ thống và nguyên tắc xã hội - lịch sử.

Hệ thống khái niệm công cụ và cấu trúc phẩm chất

  • Khái niệm hướng dẫn viên du lịch: Là người thay mặt cho công ty lữ hành đảm nhiệm vai trò trực tiếp quản lý, thuyết minh, điều hành, tổ chức, đảm bảo an toàn cho du khách trong một chương trình du lịch đã được thỏa thuận nhằm đáp ứng yêu cầu, mong muốn của du khách và thực hiện các nhiệm vụ của doanh nghiệp giao phó.
  • Khái niệm phẩm chất tâm lý cơ bản của HDVDL: Là những đặc điểm, thuộc tính tâm lý tích cực của người hướng dẫn viên du lịch đáp ứng yêu cầu của nghề hướng dẫn du lịch, có tính cần thiết, tính thể hiện, tính hiệu quả ở mức cao về xu hướng, tính cách, kinh nghiệm, phong cách hướng dẫn du lịch; được hình thành, phát triển, thể hiện thông qua hoạt động và giao tiếp du lịch, đồng thời chi phối hoạt động và giao tiếp du lịch của hướng dẫn viên.

Cấu trúc phẩm chất tâm lý cơ bản của người hướng dẫn viên du lịch được luận án xác lập gồm 4 nhóm với 15 phẩm chất thành phần:

  1. Nhóm phẩm chất về xu hướng: (1) Yêu quý nghề hướng dẫn du lịch; (2) Hứng thú làm việc với khách du lịch; (3) Nhu cầu nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
  2. Nhóm phẩm chất về tính cách: (4) Tinh thần trách nhiệm; (5) Tính trung thực; (6) Tính kiên nhẫn; (7) Sự nhiệt tình, chu đáo; (8) Tính nguyên tắc kết hợp linh hoạt.
  3. Nhóm phẩm chất về kinh nghiệm: (9) Tri thức chuyên môn sâu rộng; (10) Kỹ năng giao tiếp và thuyết minh; (11) Kỹ năng xử lý tình huống; (12) Kỹ năng tổ chức hoạt động du lịch.
  4. Nhóm phẩm chất về phong cách hướng dẫn du lịch: (13) Phong cách tự tin, đĩnh đạc; (14) Sự cởi mở, thân thiện; (15) Tính hài hước, dí dỏm.

Mỗi phẩm chất được đo nghiệm định lượng thông qua thang đo 3 chiều kích: Mức độ cần thiết (nhận thức), Mức độ thể hiện (hành vi thực tế) và Mức độ hiệu quả (kết quả tác động).

Chức năng và vai trò của hướng dẫn viên được xác định trong luận án gồm:

  • Chức năng: Chức năng tổ chức; Chức năng trung gian; Chức năng truyền thông, quảng bá; Chức năng phiên dịch.
  • Vai trò: Vai trò người phục vụ; Vai trò marketing viên không chuyên; Vai trò sứ giả; Vai trò người bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn du lịch.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án phối hợp đồng bộ các phương pháp định tính và định lượng:

  1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản: Phân tích hệ thống chính sách, văn bản pháp luật về du lịch và các công trình khoa học chuyên ngành.
  2. Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các chuyên gia tâm lý học và cán bộ quản lý lữ hành để hoàn thiện bộ tiêu chí và bảng hỏi.
  3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Công cụ thu thập dữ liệu định lượng chính, khảo sát mức độ cần thiết, thể hiện và hiệu quả của các phẩm chất.
  4. Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý, hướng dẫn viên, sinh viên và du khách để làm rõ nguyên nhân các hạn chế tâm lý.
  5. Phương pháp quan sát: Theo dõi hành vi, tác phong của hướng dẫn viên trong quá trình dẫn tour thực tế.
  6. Phương pháp phân tích chân dung tâm lý điển hình (nghiên cứu trường hợp): Phân tích các trường hợp hướng dẫn viên thành công và thất bại để minh họa cho sự chi phối của các phẩm chất tâm lý.
  7. Phương pháp thực nghiệm tác động: Tổ chức chương trình tập huấn, bồi dưỡng nâng cao 5 phẩm chất tâm lý cơ bản có điểm số thực trạng thấp trên nhóm khách thể thực nghiệm, so sánh với nhóm đối chứng trước và sau tác động.
  8. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: Tính toán điểm trung bình, độ lệch chuẩn (ĐLC), thứ bậc (TB), kiểm định tương quan và so sánh cặp bằng các thuật toán thống kê.
Nhóm khách thể khảo sát Số lượng (người) Địa bàn khảo sát Mục đích thu thập dữ liệu
Cán bộ quản lý lữ hành 50 Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh Đánh giá yêu cầu nghề và thực trạng năng lực của hướng dẫn viên
Hướng dẫn viên du lịch 150 Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh Tự đánh giá mức độ cần thiết, thể hiện, hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng
Sinh viên năm 4 ngành hướng dẫn 150 Các trường đại học tại Hà Nội Đánh giá nhận thức nghề và mức độ sẵn sàng tâm lý trước khi hành nghề
Khách du lịch 14 Một số điểm tham quan du lịch Đánh giá mức độ hài lòng và trải nghiệm đối với hướng dẫn viên
Tổng số khách thể 364 Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh Khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về nghiên cứu những phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch

Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm và khung lý thuyết định hướng cho toàn bộ luận án:

  • Điểm luận chi tiết các nghiên cứu trong và ngoài nước về phẩm chất tâm lý trong mối quan hệ với hoạt động chuyên môn nghề nghiệp, chỉ rõ bước phát triển từ phân loại tâm lý hướng nghiệp tổng quát đến các nghiên cứu tâm lý học chuyên biệt theo ngành nghề.
  • Phân tích và làm rõ việc vận dụng quan điểm của K. Platonov về mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động và nhân cách, cùng mô hình "Tam giác hướng nghiệp" làm cơ sở xem xét phẩm chất của hướng dẫn viên du lịch trong mối liên hệ với nhu cầu thị trường du lịch và yêu cầu thực tiễn của nghề.
  • Hệ thống hóa các khái niệm: "phẩm chất", "phẩm chất tâm lý", "hướng dẫn viên du lịch", từ đó xác lập khái niệm và cấu trúc "phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch" gồm 4 nhóm (xu hướng, tính cách, kinh nghiệm, phong cách) với 15 phẩm chất thành phần.
  • Phân tích chức năng (tổ chức, trung gian, truyền thông quảng bá, phiên dịch), vai trò (người phục vụ, marketing viên không chuyên, sứ giả văn hóa, bảo vệ an ninh quốc gia và an toàn du lịch), cùng đặc điểm hoạt động hướng dẫn du lịch về mặt đối tượng tác động, mục đích, điều kiện môi trường, công cụ và sản phẩm lao động.
  • Xác định hệ thống các yếu tố ảnh hưởng đến phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch, chia thành hai nhóm: yếu tố chủ quan (động cơ cá nhân, khả năng tự học, tự rèn luyện, sức khỏe, năng khiếu) và yếu tố khách quan (chương trình đào tạo tại nhà trường, công tác quản lý bồi dưỡng của doanh nghiệp lữ hành, môi trường văn hóa - xã hội, áp lực từ khách du lịch).

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày tiến trình nghiên cứu và quy trình vận hành các phương pháp khoa học:

  • Quy trình nghiên cứu được triển khai qua 3 giai đoạn:
    • Giai đoạn 1: Xây dựng cơ sở lý luận, tổng quan tài liệu, xác lập mô hình phẩm chất và thiết kế công cụ đo nghiệm.
    • Giai đoạn 2: Khảo sát thực trạng biểu hiện các phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên trên 364 khách thể tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; xử lý số liệu thống kê mô tả, phân tích tương quan và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng.
    • Giai đoạn 3: Thiết kế nội dung biện pháp bồi dưỡng, tiến hành thực nghiệm sư phạm tác động nhằm nâng cao các phẩm chất tâm lý thành phần có điểm số thấp, đo lường và đánh giá kết quả trước và sau thực nghiệm.
  • Mô tả chi tiết 8 phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và phương pháp thống kê toán học sử dụng trong việc tính toán điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định độ tin cậy và phân tích thứ bậc của từng chỉ số phẩm chất.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu về những phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch

Chương 3 công bố toàn bộ dữ liệu thực chứng thu được từ khảo sát thực trạng và thực nghiệm tác động:

  • Thực trạng chung: Dữ liệu cho thấy tồn tại sự chênh lệch có ý nghĩa giữa mức độ nhận thức về tính cần thiết và mức độ thể hiện, hiệu quả thực tế của các phẩm chất tâm lý cơ bản. Điểm đánh giá mức độ cần thiết ở cả 4 nhóm khách thể (CBQL, HDVDL, SVHDDL) luôn đạt ở mức cao, chứng minh các nhóm phẩm chất được thiết kế có giá trị lý luận và phù hợp với đòi hỏi của nghề. Tuy nhiên, mức độ thể hiện trong hành vi thực tế và mức độ hiệu quả đạt được trong việc làm hài lòng du khách lại thấp hơn đáng kể.
  • Thực trạng theo từng nhóm phẩm chất:
    • Nhóm xu hướng: Nhận thức về sự cần thiết của việc nâng cao trình độ chuyên môn đạt điểm cao, song tình cảm gắn bó, yêu nghề và hứng thú làm việc trực tiếp với khách du lịch bộc lộ sự suy giảm sau một thời gian hành nghề do áp lực công việc.
    • Nhóm tính cách: Tinh thần trách nhiệm và tính trung thực được đánh giá là đặc biệt cần thiết; tuy nhiên, mức độ thể hiện tính kiên nhẫn trước những phàn nàn của khách và sự linh hoạt trong xử lý mâu thuẫn vẫn còn nhiều hạn chế.
    • Nhóm kinh nghiệm: Kỹ năng xử lý tình huống phát sinh (tai nạn, hủy chuyến, chậm giờ, mâu thuẫn nội bộ đoàn) có sự chênh lệch lớn nhất giữa tính cần thiết và hiệu quả thực tế; nhiều hướng dẫn viên trẻ và sinh viên thực tập lúng túng khi đối mặt sự cố bất ngờ.
    • Nhóm phong cách: Hướng dẫn viên nhìn chung thể hiện được sự tự tin, song mức độ cởi mở, thân thiện và tính khôi hài, dí dỏm chưa đồng đều, đôi khi còn mang tính đối phó, khuôn mẫu.
  • Phân tích chân dung tâm lý điển hình: Luận án phân tích sâu một số trường hợp cụ thể minh họa cho sự thành công nhờ kết hợp hài hòa giữa nhiệt huyết nghề nghiệp, khả năng kiềm chế cảm xúc với phong cách giao tiếp khéo léo; đồng thời chỉ ra trường hợp thất bại do thiếu kiên nhẫn, thiếu trách nhiệm dẫn đến xung đột với khách du lịch.
  • Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng: Phân tích tương quan khẳng định các yếu tố khách quan (đặc biệt là công tác tập huấn định kỳ của công ty lữ hành) và yếu tố chủ quan (hoạt động tự rèn luyện, tự học hỏi của hướng dẫn viên) có hệ số tương quan thuận, tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất tới mức độ hoàn thiện các phẩm chất tâm lý cơ bản.
  • Kết quả thực nghiệm tác động: Luận án đã lựa chọn 5 phẩm chất tâm lý cơ bản có điểm số thực trạng hạn chế nhất để tiến hành bồi dưỡng thực nghiệm: yêu quý nghề hướng dẫn du lịch; hứng thú làm việc với khách; tinh thần trách nhiệm; kỹ năng xử lý tình huống; sự thân thiện, cởi mở. Kết quả quy đổi điểm số trước và sau thực nghiệm cho thấy nhóm thực nghiệm có sự cải thiện rõ rệt về điểm số trung bình ở cả 5 phẩm chất (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê), trong khi nhóm đối chứng không có sự biến đổi đáng kể.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa ba yếu tố trong mô hình "Tam giác hướng nghiệp" của K. Platonov áp dụng vào lĩnh vực du lịch: thị trường lao động du lịch, yêu cầu của nghề hướng dẫn du lịch và đặc điểm tâm lý cá nhân của người hành nghề.
  2. Xây dựng và hoàn thiện định nghĩa khoa học về hướng dẫn viên du lịch và phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch dưới góc độ tâm lý học chuyên ngành.
  3. Xác lập cấu trúc hệ thống gồm 4 nhóm phẩm chất tâm lý cơ bản (xu hướng, tính cách, kinh nghiệm, phong cách hướng dẫn du lịch) với 15 phẩm chất thành phần cụ thể; đồng thời thiết lập bộ công cụ đo nghiệm thực chứng theo 3 chiều kích: mức độ cần thiết, mức độ thể hiện và mức độ hiệu quả.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh toàn cảnh, khách quan về thực trạng mức độ biểu hiện 15 phẩm chất tâm lý thành phần của đội ngũ hướng dẫn viên du lịch và sinh viên chuyên ngành tại hai trung tâm du lịch lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Phát hiện và chỉ ra các khoảng trống, sự thiếu hụt cụ thể trong phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch hiện nay, đặc biệt là sự giảm sút hứng thú làm việc, thiếu tính kiên nhẫn và hạn chế trong kỹ năng giải quyết tình huống phát sinh.
  3. Xác định rõ mức độ tác động của các nhóm yếu tố chủ quan và khách quan đến sự hình thành phẩm chất tâm lý nghề nghiệp, trong đó khẳng định vai trò cốt lõi của hoạt động tự rèn luyện cá nhân và chương trình bồi dưỡng nội bộ của doanh nghiệp lữ hành.
  4. Chứng minh bằng thực nghiệm tính khả thi và hiệu quả của chương trình tập huấn, bồi dưỡng tâm lý chuyên biệt trong việc nâng cao điểm số của 5 phẩm chất tâm lý cơ bản then chốt.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với các cơ sở đào tạo du lịch: Cần đổi mới chương trình đào tạo theo hướng cân bằng giữa kiến thức nghiệp vụ và việc rèn luyện các phẩm chất tâm lý nghề nghiệp; tăng cường thời lượng thực hành xử lý tình huống tâm lý và giáo dục đạo đức, văn hóa nghề nghiệp cho sinh viên ngay từ trên ghế nhà trường.
  • Đối với các doanh nghiệp lữ hành: Cần coi trọng công tác đánh giá phẩm chất tâm lý trong khâu tuyển dụng; thường xuyên tổ chức các khóa tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng ứng xử, giải tỏa căng thẳng tâm lý và củng cố tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ hướng dẫn viên sau các mùa tour cao điểm.
  • Đối với bản thân hướng dẫn viên du lịch: Cần chủ động lập kế hoạch tự rèn luyện ý chí, tính kiên nhẫn, trau dồi vốn sống văn hóa và giữ gìn ngọn lửa đam mê, đạo đức nghề nghiệp trong suốt quá trình công tác.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch: Cần hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp hướng dẫn viên, bổ sung các tiêu chí đánh giá phẩm chất tâm lý và đạo đức nghề nghiệp vào quy trình cấp và đổi thẻ hướng dẫn viên du lịch.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:
    • Về địa bàn nghiên cứu: Khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn tại một số doanh nghiệp lữ hành và cơ sở đào tạo trên địa bàn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, chưa bao quát được các địa bàn du lịch đặc thù khác như miền Trung, vùng Tây Bắc hay vùng đồng bằng sông Cửu Long.
    • Về khách thể nghiên cứu: Số lượng khách du lịch được phỏng vấn trực tiếp còn hạn chế (14 khách du lịch), chủ yếu đóng vai trò bổ trợ dữ liệu định tính mà chưa hình thành mẫu khảo sát diện rộng bằng bảng hỏi độc lập.
    • Về đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung vào hướng dẫn viên du lịch tổng quát theo tour lữ hành, chưa phân hóa sâu theo từng loại hình hướng dẫn viên chuyên biệt (như hướng dẫn viên tại điểm, hướng dẫn viên du lịch sinh thái, mạo hiểm hay hướng dẫn viên quốc tế chuyên tuyến).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát thực tiễn đến các trung tâm du lịch thuộc miền Trung và các khu vực địa lý khác để kiểm định tính phổ quát của mô hình phẩm chất.
    • Xây dựng quy chuẩn hóa các bộ công cụ trắc nghiệm tâm lý nghề nghiệp phục vụ công tác tuyển dụng và sát hạch cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch ở quy mô toàn quốc.
    • Nghiên cứu sâu hơn các phẩm chất tâm lý đặc thù theo từng thị trường khách du lịch quốc tế chuyên biệt (khách Âu, Mỹ, Đông Bắc Á...) và các loại hình du lịch chuyên đề mới.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tâm lý học và Du lịch học: Có thể tham khảo cách thức vận dụng mô hình "Tam giác hướng nghiệp" của K. Platonov vào một ngành nghề cụ thể, cũng như phương pháp luận phối hợp giữa bảng hỏi thực trạng và thực nghiệm sư phạm tác động.
  • Giảng viên và các cơ sở đào tạo nghề du lịch: Phần phân tích cấu trúc 15 phẩm chất tâm lý thành phần và nội dung chương trình thực nghiệm bồi dưỡng tại Chương 2 và Chương 3 là cơ sở hữu ích để thiết kế chương trình rèn luyện kỹ năng mềm và tâm lý học du lịch cho sinh viên.
  • Cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp lữ hành: Có thể ứng dụng trực tiếp các tiêu chí đánh giá mức độ cần thiết, thể hiện và hiệu quả của các nhóm phẩm chất để xây dựng quy chuẩn tuyển dụng, đánh giá nhân sự và thiết kế chương trình đào tạo nội bộ.
  • Các nhà hoạch định chính sách du lịch: Cung cấp luận cứ thực tiễn để rà soát, điều chỉnh các tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp và chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ hướng dẫn viên theo quy định của Luật Du lịch.

Câu hỏi thường gặp

1. Cấu trúc phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch trong luận án gồm những nhóm thành phần nào?

Cấu trúc phẩm chất tâm lý cơ bản của người hướng dẫn viên du lịch được luận án xác lập gồm 4 nhóm với 15 phẩm chất thành phần: (1) Nhóm xu hướng (yêu quý nghề, hứng thú làm việc với khách, nhu cầu nâng cao trình độ); (2) Nhóm tính cách (tinh thần trách nhiệm, tính trung thực, tính kiên nhẫn, sự nhiệt tình chu đáo, tính nguyên tắc kết hợp linh hoạt); (3) Nhóm kinh nghiệm (tri thức chuyên môn sâu rộng, kỹ năng giao tiếp và thuyết minh, kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng tổ chức hoạt động du lịch); (4) Nhóm phong cách hướng dẫn du lịch (phong cách tự tin đĩnh đạc, cởi mở thân thiện, tính hài hước dí dỏm).

2. Khách thể khảo sát thực tiễn của luận án được phân bổ như thế nào?

Tổng số khách thể tham gia nghiên cứu là 364 người, bao gồm: 50 cán bộ quản lý lữ hành; 150 hướng dẫn viên du lịch đang công tác tại các công ty lữ hành; 150 sinh viên năm thứ 4 chuyên ngành hướng dẫn du lịch đang thực tập; và 14 khách du lịch tại một số điểm tham quan trên địa bàn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Mô hình lý thuyết nào được tác giả quán triệt làm khung tiếp cận chính?

Tác giả quán triệt mô hình "Tam giác hướng nghiệp" của K. Platonov (1979) kết hợp quan điểm tâm lý học hoạt động. Khung lý thuyết này phân tích mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa ba đỉnh: Thị trường lao động ngành du lịch, Yêu cầu của nghề hướng dẫn du lịch và Đặc điểm tâm lý cá nhân của người hành nghề.

4. Theo kết quả nghiên cứu thực trạng, những phẩm chất nào ở hướng dẫn viên du lịch bộc lộ nhiều hạn chế nhất?

Thực trạng cho thấy những phẩm chất có sự chênh lệch lớn nhất giữa mức độ cần thiết và mức độ thể hiện, hiệu quả thực tế gồm: tình cảm yêu nghề; hứng thú làm việc với khách du lịch; tính kiên nhẫn trước các yêu cầu của du khách; kỹ năng xử lý các tình huống phát sinh; và sự cởi mở, thân thiện tự nhiên trong giao tiếp.

5. Chương trình thực nghiệm tác động trong luận án tập trung vào những phẩm chất cụ thể nào và đạt kết quả ra sao?

Thực nghiệm sư phạm được tiến hành theo hình thức bồi dưỡng, tập huấn chuyên biệt nhằm tác động nâng cao 5 phẩm chất tâm lý cơ bản có điểm số thực trạng thấp: (1) Yêu quý nghề hướng dẫn du lịch; (2) Hứng thú làm việc với khách du lịch; (3) Tinh thần trách nhiệm; (4) Kỹ năng xử lý tình huống; (5) Sự thân thiện, cởi mở. Kết quả kiểm định thống kê cho thấy điểm số trung bình của cả 5 phẩm chất này ở nhóm thực nghiệm sau tác động đều tăng lên rõ rệt và có ý nghĩa thống kê so với trước thực nghiệm và so với nhóm đối chứng.

Kết luận

Luận án "Những phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch" của tác giả Phí Công Mạnh là công trình khoa học chuyên ngành nghiên cứu hệ thống về đặc điểm tâm lý của người hướng dẫn viên du lịch tại Việt Nam. Bằng việc vận dụng sáng tạo mô hình "Tam giác hướng nghiệp" của K. Platonov, luận án đã xác lập thành công mô hình cấu trúc 4 nhóm với 15 phẩm chất tâm lý cơ bản, đồng thời thiết lập khung đánh giá thực nghiệm đa chiều. Kết quả khảo sát trên 364 khách thể đã làm sáng tỏ khoảng cách giữa nhận thức lý thuyết và thực tiễn hành nghề, xác định các yếu tố chi phối cốt lõi và chứng minh hiệu quả thực tế của biện pháp tập huấn bồi dưỡng tâm lý. Công trình cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng và cơ sở khoa học tin cậy cho công tác tuyển chọn, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành du lịch.