Chương 1: Cơ sở lý luận chung về hoạt động nhượng quyền thương mại. - Chương 2: Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam. - Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện nhượng quyền thương mại ở Việt Nam. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI 1.
Khái quát chung về hoạt động nhƣợng quyền thƣơng mại 1. Lịch sử hình thành và phát triển của Nhượng quyền thương mại Được Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) công nhận là một loại hình của dịch vụ phân phối, nhượng quyền thương mại (Franchise) là một mô hình kinh doanh có tốc độ phát triển rất nhanh và rộng khắp các quốc gia trên thế giới. Thuật ngữ "nhượng quyền thương mại" (NQTM) đã có từ rất lâu đời. Nguồn gốc của NQTM được hình thành từ thời Trung cổ nhưng NQTM hiện đại bắt đầu diễn ra ở Hoa Kỳ vào những năm 1850.
Vào thời điểm đó, công ty I.Singer với nỗ lực nhằm phân phối và đẩy mạnh việc tiêu thụ số lượng máy khâu do công ty sản xuất đã tình cờ tạo ra hệ thống NQTM sơ khai đầu tiên tại Mỹ. Franchise thực sự phát triển mạnh, bùng phát kể từ sau năm 1945 (khi Thế Chiến II kết thúc), với sự ra đời của hàng loạt hệ thống nhà hàng, khách sạn và các hệ thống kinh doanh, phân phối theo kiểu bán lẻ, mà sự đồng nhất về cơ sở hạ tầng, thương hiệu, sự phục vụ là đặc trưng cơ bản để nhận dạng những hệ thống kinh doanh theo phương thức này. Sự bùng nổ toàn cầu của hoạt động NQTM mới chỉ 20-30 năm trở lại đây. Chi phí thấp và ít rủi ro là hai yếu tố hấp dẫn các doanh nghiệp trên thế giới tham gia ngày càng mạnh mẽ vào hoạt động NQTM.
Ngày nay, NQTM trở thành một trong những ngành dịch vụ có doanh số rất lớn, tập trung nhiều trong lĩnh vực như: đồ uống, đồ ăn nhanh, giáo dục đào tạo, thời trang, bất động sản…bởi đây là những lĩnh vực có tiềm năng thu được lợi nhuận cao. Sự lớn mạnh của những tập đoàn xuyên quốc gia của Hoa Kỳ và một số nước Châu Âu trong lĩnh vực kinh doanh thức ăn nhanh, khách sạn – nhà hàng đã góp phần “truyền bá” và phát triển franchise trên khắp thế giới. Tính đến nay, NQTM đã xuất hiện ở trên 160 nước trên thế giới với hơn 17.000 hệ thống nhượng quyền, với doanh thu đạt hàng nghìn tỷ USD mỗi năm. Tổng giá trị ngành nhượng quyền toàn cầu năm 2014 là 3,8 ngàn tỷ USD, trong đó 63% giá trị thị trường là tại Mỹ (2,4 ngàn tỷ USD), còn lại chia đều cho Tây Âu, Úc 9 và các thị trường đã phát triển như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc…Nhượng quyền tại châu Á vẫn còn là một thị trường rất tiềm năng.
Dự báo trong thời gian tới, các mô hình và thương hiệu nhượng quyền từ Hoa Kỳ, châu Âu, châu Úc sẽ tập trung về châu Á. Trên thực tế, gần 1.000 thương hiệu quốc tế đang tìm kiếm đối tác nhận quyền tại thị trường châu Á. Cơ cấu ngành nghề NQTM trên thế giới được thể hiện qua bảng dưới đây: Bảng 1.1: Tỷ trọng các ngành trong NQTM toàn cầu 2015 (%) Nhà hàng thức ăn nhanh 20.8 Dịch vụ bảo trì sửa chữa 12.6 Dịch vụ chăm sóc sức khoe và sắc đẹp 12.6 Sản phẩm, dịch vụ cho trẻ em 8.4 Dịch vụ doanh nghiệp 5.8 Khách sạn và cơ sở lưu trú 5.2 Sản phẩm và dịch vụ gia đình 3.0 Sản phẩm dịch vụ thú nuôi 1.8 Ẩm thực ngành bán lẻ 1.8 Dịch vụ tài chính 1.6 Dịch vụ sức khỏe 1.0 Tổng số 100 Nguồn: Hiệp hội nhƣợng quyền quốc tế 2015 (IFA) Hiệp hội nhượng quyền quốc tế nhận định có hơn 75 ngành công nghiệp sử dụng hình thức NQTM và con số này có thể tăng trong thời gian tới [11]. Một số khái niệm, đặc điểm của Nhượng quyền thương mại 1.
Khái niệm về Nhượng quyền thương mại – Franchise: * Theo Hiệp hội NQTM Quốc tế (IFA): "NQTM là mối quan hệ ổn định và liên tục, trong đó bên nhận quyền nhận được một đặc quyền thương mại được cấp phép bởi bên nhượng quyền để tiến hành hoạt động kinh doanh dưới cùng một thương hiệu với bên nhượng quyền đồng thời với việc nhận được sự hỗ trợ của bên này. Đổi lại, bên nhận quyền trả một khoản phí được xem như là một sự trao đổi ngang giá với đặc quyền được hưởng từ bên nhượng quyền”. [11] * Theo Hội đồng Thƣơng mại Liên bang Hoa Kỳ (FTC): “ NQTM là một thỏa thuận giữa hai hay nhiều người, trong đó: Bên nhận quyền được cấp quyền bán hoặc phân phối sản phẩm/dịch vụ theo cùng một kế hoạch hay hệ thống tiếp thị của bên nhượng quyền; Hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền phải triệt để tuân thủ kế hoạch hay hệ thống tiếp thị gắn liền với nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng, tiêu chí quảng cáo và những biểu tượng thương mại khác của bên nhượng quyền; Bên nhận quyền có nghĩa vụ trả một khoản phí, trực tiếp hoặc gián tiếp, gọi là phí NQTM”. [11] * Theo Ủy ban NQTM Úc (FCA): NQTM được hiểu là “một quan hệ kinh doanh theo đó bên nhượng quyền với tư cách là chủ sở hữu của sản phẩm hoặc dịch vụ giao cho cá nhân độc lập (bên nhận quyền) quyền được sản xuất và phân phối sản phẩm/dịch vụ của bên nhượng quyền cùng với việc sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu của bên nhượng quyền trong một khoảng thời gian nhất định”.
[11] * Theo Cộng đồng chung Châu Âu EC (nay là liên minh châu Âu EU): NQTM là một "tập hợp những quyền SHCN và SHTT liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bí quyết, hoặc sáng chế sẽ được khai thác để bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ tới người sử dụng cuối cùng". * Khái niệm NQTM tại Việt Nam:“NQTM là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: 11 1. Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; 2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh”.
[18] Như vậy, mỗi quốc gia hoặc tổ chức đều có khái niệm riêng về NQTM nhưng đều mô tả được những đặc điểm chung nhất của loại hình kinh doanh này. Đó là một quan hệ hợp tác kinh doanh, trong đó một đối tác cấp phép cho một đối tác khác sử dụng quyền thương mại về hệ thống kinh doanh hay hệ thống sản phẩm đã qua thử nghiệm thành công của mình trong phạm vi nhất định để đổi lấy quyền lợi là phí cho phép sử dụng ban đầu và các loại phí cho phép sử dụng liên quan trong suốt thời gian hợp đồng NQTM còn hiệu lực. Sự linh hoạt trong hoạt động NQTM phản ánh thực tế là không có một định nghĩa cụ thể nào về NQTM. Mỗi quốc gia có sự khác biệt về quan điểm và môi trường kinh tế, chính trị, xã hội nên định nghĩa về NQTM cũng khác nhau.
Việt Nam sử dụng luật riêng về NQTM không chỉ để điều chỉnh mà còn như một công cụ để khuyến khích sự phát triển của hoạt động này trong bối cảnh hứa hẹn sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực nhượng quyền, nhu cầu hoàn thiện hơn nữa pháp luật để khuyến khích NQTM phát triển. Do đó, luận văn đã sử dụng cách hiểu khái niệm về NQTM theo quy định của pháp luật Việt Nam như đề cập trên. Theo đó, bản chất của NQTM là “một phương thức kinh doanh liên quan đến việc cho phép sử dụng nhãn hiệu, chuyển giao bí quyết, công nghệ và sự đồng nhất của các đơn vị kinh doanh riêng biệt trong cùng hệ thống kinh doanh”. Đặc điểm của nhượng quyền thương mại - Thứ nhất, chủ thể của quan hệ NQTM bao gồm bên nhượng quyền và bên nhận quyền.
Các chủ thể này có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, là công dân trong nước hoặc người nước ngoài. Trong thực tế, đa số các bên tham gia quan hệ NQTM là thương nhân. Có thể có hai bên hoặc nhiều bên tham gia vào quan hệ NQTM. 12 Bên nhượng quyền và bên nhận quyền có tư cách pháp lý độc lập với nhau và tự chịu trách nhiệm đối với những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình.
- Thứ hai, đối tượng của NQTM là quyền thương mại. Nội dung của khái niệm quyền thương mại phát triển rất phong phú và có mối liên hệ đặc biệt với các đối tượng SHTT. Nội dung của quyền thương mại có thể khác nhau tuỳ thuộc vào từng loại hình NQTM và thoả thuận giữa các bên. Nó có thể bao gồm quyền sử dụng các tài sản trí tuệ như tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá/dịch vụ, bí mật kinh doanh… và quyền kinh doanh theo mô hình, với phương thức quản lý, đào tạo, tiếp thị sản phẩm của bên nhượng quyền… Quyền thương mại là một sự kết hợp các yếu tố nêu trên, từ đó tạo nên sự khác biệt của cơ sở kinh doanh trong hệ thống NQTM, giúp phân biệt với các cơ sở kinh doanh khác là đối thủ cạnh tranh.
Sự lựa chọn và cách sử dụng các yếu tố này cấu thành một khía cạnh cơ bản của chính sách chung của doanh nghiệp để tạo ra sức mạnh cạnh tranh. - Thứ ba, NQTM là hoạt động kinh doanh theo mô hình thống nhất. Theo đó, bên nhận quyền phải tuân thủ mô hình NQTM. Trong hoạt động NQTM, bên nhượng quyền và các bên nhận quyền cùng tiến hành kinh doanh trên cơ sở cùng khai thác quyền thương mại.
Điều đó tạo ra một hệ thống thống nhất. Tính thống nhất thể hiện ở: + Thống nhất về hành động của bên nhượng quyền và các bên nhận quyền. Các thành viên trong hệ thống NQTM phải thống nhất về mọi hành động nhằm duy trì hình ảnh đặc trưng và duy trì chất lượng đặc trưng của sản phẩm/dịch vụ; + Thống nhất về lợi ích của bên nhượng quyền và các bên nhận quyền. Lợi ích của bên nhượng quyền và các bên nhận quyền có mối quan hệ mật thiết với nhau.