Chương 1 Khái quát chung về nhượng quyền thương mại và hợp đồng nhượng quyền thương mại 6 z Chương 2. Những vấn đề pháp lý cơ bản của hợp đồng nhượng quyền thương mại Chương 3 Thực trạng việc thực hiện hợp đồng nhượng quyền thương mại và giải pháp hoàn thiện Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo. 7 z CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI VÀ HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI 1. Khái quát chung về nhƣợng quyền thƣơng mại 1.
Định nghĩa về nhượng quyền thương mại Để thấy được bản chất của quan hệ HĐNQTM, chúng ta cùng tìm hiểu và phân tích các định nghĩa/khái niệm nhượng quyền dưới lăng kính pháp lý. Nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại nhằm mở rộng hệ thống, mô hình kinh doanh của thương nhân thông qua việc chia sẻ quyền thương mại, quy trình, bí quyết kinh doanh cho một thương nhân khác. Các bên trong quan hệ nhượng quyền này, căn cứ trên hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ nhượng quyền thương mại, sẽ ràng buộc với nhau bằng các thỏa thuận hoặc hợp đồng giữa ít nhất là hai thương nhân, trong đó, bên nhượng quyền đồng ý trao cho bên nhận quyền một “quyền thương mại” bao gồm quyền bán hay phân phối sản phẩm, dịch vụ theo cùng mô hình, kỹ thuật kinh doanh sản phẩm, dịch vụ dưới tên thương mại của mình để nhận lại một khoản phí hay phần trăm doanh thu trong một khoảng thời gian nhất định đã được thỏa thuận trong hợp đồng. Ngoài ra bên nhận quyền phải tuyệt đối tuân thủ các kế hoạch kinh doanh, nhãn hiệu, thương hiệu, biểu tượng v.
do bên nhượng quyền đưa ra. Hiện nay, ở các nước, các tổ chức thương mại quốc tế khác nhau đã có nhiều định nghĩa về nhượng quyền thương mại, được ghi nhận như là một phần quan trọng điều chỉnh hệ thống pháp luật thương mại đối với từng tổ chức quốc tế hay quốc gia đó. Theo Hiệp hội nhượng quyền thương mại Quốc tế (The International Franchise Association), một tổ chức được thành lập từ năm 1960 với nhiều thành viên đến từ hàng trăm quốc gia trên thế giới đã định nghĩa nhượng 8 z quyền thương mại như sau: “Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ theo hợp đồng giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, trong đó, bên nhượng quyền đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của bên nhận quyền trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên; bên nhận quyền hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hoá, phương thức, phương pháp kinh doanh do bên nhượng quyền sở hữu hoặc kiểm soát và bên nhận quyền đang hoặc sẽ đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp của mình bằng các nguồn lực của mình. Định nghĩa này không đi sâu vào bản chất của nhượng quyền thương mại mà chỉ khái quát vai trò của các bên trong quan hệ HĐNQTM.
Theo Hiệp Hội Nhượng Quyền Thương Mại Quốc Tế của Hoa Kỳ thì “Nhượng quyền thương mại là một mối quan hệ hợp đồng giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, theo đó bên nhượng quyền cung cấp và có nghĩa vụ duy trì sự quan tâm liên tục đến việc kinh doanh của bên nhận quyền trên các lĩnh vực như bí quyết kinh doanh và đào tạo; bên nhận quyền sẽ hoạt động dưới tên thương mại chung, phương thức và/hoặc cách thức kinh doanh do bên nhượng quyền sở hữu hoặc kiểm soát; và theo đó bên nhận quyền đang hoặc sẽ tiến hành đầu tư đáng kể vốn vào việc kinh doanh của mình bằng các nguồn lực riêng của mình. Chương 54, Bộ Luật Dân Sự Nga ban hành năm 1996 định nghĩa nhượng quyền thương mại như sau: “Theo HĐNQTM, một bên (bên có quyền) cấp cho bên kia (bên nhận quyền) với một khoản thù lao, theo một thời hạn hay không thời hạn, quyền được sử dụng trong các hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền một tập hợp các quyền độc quyền của bên có quyền bao gồm quyền đối với dấu hiệu, chỉ dẫn thương mại, các quyền đối với bí mật kinh doanh và các quyền độc quyền theo hợp đồng đối với các đối tượng khác như nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, v. 9 z Thông qua định nghĩa của Nga chúng ta có thể nhận thấy được một số vấn đề quan trọng đối với nhượng quyền thương mại như: hình thức pháp lý thể hiện nội dung việc nhượng quyền thương mại; các đối tượng của nhượng quyền thương mại, thời hạn và phí của nhượng quyền thương mại. Để đánh giá về tính toàn diện và đầy đủ của khái niệm nhượng quyền thương mại, chúng ta cùng tham khảo định nghĩa của Hiệp Hội Nhượng Quyền Thương Mại Châu Âu cũng đã có định nghĩa về nhượng quyền thương mại như sau: “Nhượng quyền thương mại là một hệ thống tiếp thị (marketing) hàng hóa và/hoặc dịch vụ và/hoặc công nghệ dựa trên sự cộng tác gần gũi và thường xuyên giữa các bên độc lập và riêng biệt về mặt pháp lý và tài chính, bên nhượng quyền (Franchisor) và bên nhận quyền (Individual Franchisee), theo đó bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyền quyền và áp đặt nghĩa vụ thực hiện việc kinh doanh phù hợp với ý tưởng (concept) của bên nhượng quyền.
Để đổi lại việc phải thực hiện một nghĩa vụ tài chính trực tiếp hay gián tiếp, bên nhận quyền có quyền và có nghĩa vụ sử dụng tên thương mại, và/hoặc nhãn hiệu hàng hóa và/hoặc nhãn hiệu dịch vụ, bí quyết, phương pháp kỹ thuật và kinh doanh, hệ thống quy trình và các quyền sở hữu trí tuệ và công nghiệp khác của bên nhượng quyền, được hỗ trợ bằng việc được cung cấp liên tục các trợ giúp kỹ thuật và thương mại, trong phạm vi và thời hạn quy định tại văn bản HĐNQTM do các bên quyết định cho mục đích này. Điều 5 Bộ luật về nhượng quyền thương mại của Australia định nghĩa như sau: “Nhượng quyền thương mại là một thỏa thuận, theo đó một bên (bên nhượng quyền) cấp cho một bên khác (bên nhận quyền) quyền thực hiện hoạt động đề nghị giao kết hợp đồng, cung cấp hoặc phân phối hàng hóa hoặc dịch vụ trong lãnh thổ Australia theo hệ thống hoặc kế hoạch kinh doanh mà cơ bản được xác định, kiểm soát hoặc đề xuất bởi Bên nhượng quyền hoặc 10 z Hiệp hội của những bên nhượng quyền; và (i) theo đó việc tiến hành hoạt động kinh doanh được chủ yếu gắn liền với thương hiệu, hoạt động quảng cáo hoặc biểu tượng thương mại của Bên nhượng quyền, (ii) Bên nhận quyền được sở hữu, được sử dụng hoặc được cấp giấy phép bởi Bên nhượng quyền hoặc hiệp hội của Bên nhượng quyền. Trước khi bắt đầu hoạt động kinh doanh và trong quá trình kinh doanh, Bên nhận quyền phải thanh toán cho Bên nhượng quyền hoặc hiệp hội Bên nhượng quyền một khoản phí nhượng quyền thương mại”.[24] Hai định nghĩa trên tương đối toàn diện về nhượng quyền thương mại, không những chỉ ra được các đặc điểm khái quát của bản chất nhượng quyền thương mại mà còn chỉ ra được quy trình khá chi tiết và đầy đủ của việc nhượng quyền thượng mại trên thực tế. Ở Việt Nam, Luật Thương mại 2005 đã lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật Việt Nam đưa ra định nghĩa về nhượng quyền thương mại như sau: “Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: 1.
Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; 2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.” [02] Định nghĩa trên đã nêu lên những nét chính, đặc trưng của nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, định nghĩa đã bỏ qua một yếu tố chính của nhượng quyền là phí nhượng quyền. Do hai bên tham gia quan hệ nhượng quyền là hai bên độc lập không có quan hệ về vốn với nhau và hoạt động 11 z nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại do các thương nhân thực hiện nên việc quy định về phí là cần thiết.
Ngoài ra, việc quy định cụ thể các đối tượng mà việc kinh doanh gắn với như nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo là không cần thiết vì trên thực tế việc kinh doanh có thể chỉ gắn liền với một trong hoặc một vài các đối tượng trên và ngược lại cũng có thể gắn với các đối tượng khác ngoài các đối tượng trên. Thêm nữa, việc quy định các nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh của bên nhượng quyền là không phù hợp vì có trường hợp bên nhượng quyền không phải là bên sở hữu các nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh mà họ chỉ là bên kiểm soát, nắm giữ và có quyền cấp cho bên nhận quyền quyền sử dụng các đối tượng đó mà thôi, nhất là trong các HĐNQTM thứ cấp. Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về nhượng quyền thương mại dựa trên quan điểm cụ thể của các nhà làm luật tại mỗi quốc gia. Nhưng có thể thấy rằng quan điểm chung của tất cả các khái niệm trên là việc một bên độc lập (bên nhận quyền) phân phối, kinh doanh sản phẩm dịch vụ dưới nhãn hiệu và các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ khác cũng như hệ thống kinh doanh đồng bộ do một bên khác (bên nhượng quyền) phát triển và sở hữu; để được phép làm điều này, bên nhận quyền phải trả một khoản phí và chấp nhận một số điều kiện hạn chế do bên nhượng quyền quy định.
Về bản chất hoạt động nhượng quyền thương mại là: Là loại thỏa thuận mà theo đó bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ và quyền thương mại của mình (như nhãn hiệu, tên thương mại, bí quyết, biển hiệu) trong hoạt động bán hàng hóa và dịch vụ. 12 z Bên nhận quyền phải tuân thủ phương pháp kinh doanh của bên nhượng quyền. Trong suốt thời hạn của HĐNQTM, bên nhượng quyền có trách nhiệm trợ giúp kỹ thuật, kinh doanh và tiếp thị cho bên nhận quyền.