CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY. Cơ sở lí thuyết nghiên cứu về nhượng quyền thương mại. Lịch sử hình thành và khái niệm 1. Lịch sử hình thành Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, hình thức sơ khai của lối kinh doanh nhượng quyền đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ 17-18 tại Châu Âu.
Tuy nhiên, hoạt động nhượng quyền thương mại được chính thức thừa nhận khởi nguồn, phát triển tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ 19, khi nhà máy Singer (sản xuất máy khâu) ký kết hợp đồng kinh doanh đầu tiên cho đối tác của mình. Franchise thực sự phát triển mạnh, bùng phát kể từ năm 1945, với sự ra đời của hàng loạt hệ thống nhà hàng, khách sạn và hệ thống kinh doanh, phân phối theo kiểu bán lẻ, mà sự đồng nhất về cơ sở hạ tầng, thương hiệu, sự phục vụ là đặc trưng cơ bản để nhận dạng những hệ thống kinh doanh theo phương thức này. Người đầu tiên thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại là Robert Fulton ( quốc tịch Mỹ) với đối tượng kinh doanh là giấy phép sản xuất tàu thủy chạy bằng hơi nước. Sau đó hoạt động nhượng quyền thương mại bùng nổ trên thế giới vào những năm 70 và chín muồi vào thập kỷ 80 và 90.
Sự ra đời của Hiệp hội Nhượng quyền quốc tế IFA (International Franchise Association) vào năm 1960 và Ủy ban Franchise thế giới WFC (World Franchise Council) năm 1994 đã tạo đi ều kiện cho nhượng quyền thương mại phát triển hệ thống một cách chuyên nghiệp hơn. Ngày nay, Franchise trở thành một trong những ngành dịch vụ có doanh thu lớn nhất, tập trung nhiều trong lĩnh vực kinh doanh đồ uống, đồ ăn nhanh, giáo dục đào tạo, thời trang… và có mặt tại hơn 150 nước trên thế giới, riêng tại Châu Âu có khoảng hơn 200 ngàn cửa hàng kinh doanh theo phương thức nhượng quyền. Khái niệm Franchise có nguồn gốc từ tiếng Pháp cổ là “Franc” có nghĩa là đặc quyền hay tự do. Ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của Nhượng quyền thương mại (NQTM) mà người ta có nhiều định nghĩa khác nhau.
Theo thông lệ quốc tế, NQTM được coi là một hoạt động thương mại, trong đó bên nhượng quyền (franchisor) sẽ chuyển mô hình kinh doanh, nhãn hiệu hàng hóa dịch vụ, bí quyết kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo cho bên nhận quyền(franchisee). Bên nhận quyền sau khi kí hợp đồng nhượng quyền được phép khai thác kinh doanh trên một không gian địa lý nhất định và phải trả một khoản phí nhượng quyền và tỷ lệ phần trăm doanh thu định kì cho bên nhượng quyền trong một khoảng thời gian nhất định. Đây là một hình thức để bên nhượng quyền khai thác được lợi ích tài chính từ chính bí quyết kinh doanh của mình mà không cần bỏ thêm vốn đầu tư. Ngoài ra, hình thức này cũng tạo cơ hội cho các thương nhân không có đủ kinh nghiệm cần thiết để tiếp cận được các phương thức kinh doanh mà đúng ra họ phải nỗ lực vượt bậc mới có được và cũng tạo cho họ được hưởng lợi từ chính tên thương mại, uy tín của bên nhượng quyền.
Theo điều 284 Luật Thương mại 2005 Việt Nam: Franchise là hoạt động thương mại mà bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau: -Việc mua bán hàng hóa,cung ứng dịch vụ được tiến hành theo phương thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh,biểu tượng kinh doanh,quảng cáo của bên nhượng quyền. -Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh. Mối quan hệ giữa người nhượng quyền và người nhận quyền Đó là mối quan hệ mang tính bổ sung lẫn nhau. Trong khi bên nhượng quyền cung cấp các tài sản chủ chốt thì bên nhận quyền lại là người thực hiện các 6 chức năng tại thị trường nước ngoài, như marketing và phân phối, vốn là những hoạt động mà bên nhượng quyền không thể thực hiện.
Bên nhượng quyền là bên nắm giữ hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, sở hữu dồi dào các tài sản trí tuệ và các bí quyết công nghệ trong ngành công nghiệp nó đang hoạt động, trong khi bên nhận quyền lại là bên có tư duy khởi nghiệp và hiểu biết sâu về thị trường địa phương cũng như các phương pháp quản lý một doanh nghiệp tại đó. Hình thức nhượng quyền thương mại là sự kết hợp giữa việc quản lý tập trung các hoạt động nước ngoài cùng các phương pháp kinh doanh tiêu chuẩn hóa với các kĩ năng của doanh nghiệp trong nước, những người có khả năng linh hoạt để đương đầu với các điều kiện thị trường trong nước. Nói một cách khác, nhượng quyền là sự kết hợp tối ưu giữa tập trung kĩ năng và phân tán hoạt động. Khi các điều kiện kinh tế và văn hóa ở thị trường mục tiêu khác nhiều so với thị trường của người nhượng quyền, họ phải phụ thuộc phần lớn vào năng lực của người nhận quyền tại thị trường đó.
Một đội ngũ đông đảo các doanh nghiệp nhận quyền được lựa chọn kĩ càng sẽ thúc đẩy nhanh chóng tốc độ và chất lượng các hoạt động của nhà nhượng quyền ở nước ngoài. Các thuật ngữ chuyên môn về nhượng quyền thương mại Đơn vị nhượng quyền (franchisor): là người trao cho một đơn vị, tập thể quyền sử dụng thương hiệu và phương thức hoạt động kinh doanh của mình. Đơn vị nhận quyền (franchisee): là người được nhận quyền sử dụng thương hiệu, phương thức hoạt động, mô hình kinh doanh từ đơn vị nhượng quyền, đổi lại đơn vị nhận quyền này phải thanh toán các loại phí nhượng quyền. Initial Fee: chi phí ban đầu cho việc chuẩn bị và trợ giúp để bắt đầu doanh nghiệp như: chuyển giao công nghệ, huấn luyện, thủ tục, hành chính.
Initial Fee dựa trên các gói sản phẩm mà đơn vị nhận quyền muốn được nhượng quyền, quy mô của đơn vị nhận quyền, độ phức tạp khi chuyển giao công nghệ và phạm vi hoạt động tại địa bàn của đơn vị nhận quyền. Loyalty Fee: đây là chi phí mà đơn vị nhận quyền trả hàng tháng cho đơn vị nhượng quyền. Chi phí này được trả cho việc duy trì, sử dụng thương hiệu và các 7 quyền lợi khác mà AMA-HCM có trách nhiệm hỗ trợ. Royal Fee cố định một mức cho toàn bộ các đơn vị nhận quyền trong hệ thống.
FDD- Franchise Disclosure Document: tại Mỹ, tất cả các bên nhượng quyền kinh doanh đều được Hội đồng thương mại Mỹ yêu cầu phải đệ trình lên một bộ hồ sơ về pháp lý, giới thiệu về nhượng quyền thương hiệu của mình cho người nhận quyền thương mại tiềm năng. FDD được cập nhật hàng năm và bao gồm nhiều điều khoản, còn được gọi là các mục, tài liệu này mô tả về lịch sử công ty, các khoản phí, chi phí, những ràng buộc trong hợp đồng… Franchise agreement: hợp đồng đã được viết ra, đã bao gồm trong FDD, mô tả về trách nhiệm giữa 2 bên nhượng quyền và nhận quyền. In- house financing (hỗ trợ tài chính): được thực hiện bởi bên nhượng quyền thương hiệu với bên nhận quyền để hỗ trợ về mặt chi phí, có thể bao gồm phí nhượng quyền, chi phí ban đầu, trang thiết bị, cũng như chi phí vận hành hàng ngày… Third- party financing: hỗ trợ tài chính của bên thứ ba, là việc hỗ trợ tài chính cho bên nhận quyền bởi một bên thứ ba (thường là các tổ chức tài chính). Rất nhiều bên nhượng quyền thương hiệu họ có quan hệ rất tốt với các ngân hàng để cung cấp các khoản vay, hỗ trợ tài chính cho bên nhận quyền 1.
Các hình thức và nội dung Trên thế giới hiện nay tồn tại bốn hình thức Franchise: Nhượng quyền mô hình kinh doanh toàn diện (full business format franchise) Bên nhận quyền có trách nhiệm thanh toán cho bên nhượng quyền hai khoản phí cơ bản là phí nhượng quyền ban đầu (up-front fee) và phí hoạt động (royalty fee), thường được tính theo doanh số bán định kỳ. Ngoài ra bên nhượng quyền có thể trả them các khoản chi phí khác như chi phí thiết kế và trang trí cửa hàng, mua trang thiết bị, chi phí tiếp thị, quảng cáo, các khoản chênh lệch do mua nguyên vật liệu, chi phí tư vấn. 8 Nhượng quyền mô hình kinh doanh không toàn diện (non-business format franchise) Bên nhượng quyền là chủ sở hữu thương hiệu/sản phẩm/dịch vụ thường không nỗ lực kiểm soát chặt chẽ các hoạt động của bên nhận quyền và thu nhập cả bên nhượng quyền chủ yếu từ việc bán sản phẩm hay dịch vụ. Bên nhượng quyền thường có ý định mở rộng nhah chóng hệ thống phân phối nhằm gia tăng độ bao phủ thị trường, doanh thu và đi trước đối thủ.
Nhượng quyền có tham gia quản lý ( Management franchise) Bên nhượng quyền hỗ trợ cung cấp người quản lý và điều hành doanh nghiệp ngoài việc chuyển nhượng sử dụng thương hiệu và mô hình/công thức kinh doanh. Nhượng quyền có tham gia đầu tư vốn Người nhượng quyền tham gia vốn đầu tư với tỉ lệ nhỏ dưới dạng liên doanh. Bên nhượng quyền có thể tham gia Hội đồng quản trị công ty mặc dù vốn tham gia đóng góp chỉ với tỷ lệ nhỏ.Tùy theo năng lực quản lý, sức mạnh thương hiệu, đặc trưng ngành hàng, cạnh tranh thị trường, bên nhượng quyền sẽ cân nhắc thêm ba yếu tố ưu tiên quan trọng sau khi lựa chọn mô hình franchise phù hợp cho doanh nghiệp mình. Đó là các yếu tố hiệu quả và mức độ kiểm soát hệ thống, chi phí phát triển hệ thống và mức độ bao phủ thị trường – xét về độ lớn và tốc độ.
Những yếu tố này cũng ảnh hưởng đến chiến lược franchise và cách lựa chọn cấu trúc franchise phù hợp khi kí kết hợp đồng franchise như loại hình franchise một/nhiều đơn vị franchise, đại diện franchise toàn quyền, franchise phụ trách phát triển khu vực, hay đại diện franchise, đặc biệt là khi công ty mở rộng thị trường mới hay định hướng xuất khẩu. Tuy nhiên theo các tiêu chí phân loại thì Franchise lại được chia ra thành nhiều hình thức khác nhau. Theo tiêu chí lãnh thổ, ta có thể chia franchise thành ba loại: -Nhượng quyền từ nước ngoài vào Việt Nam: là hình thức mà chủ thương hiệu là các thương hiệu nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo hình thức franchise. 9 Có thể kể đến các thương hiệu nước ngoài nhượng quyền ở Việt Nam như: KFC, MsDonald’s, Jollibee… -Nhượng quyền từ Việt Nam ra nước ngoài: là hình thức mà các thương hiệu Việt Nam đầu tư ra nước ngoài bằng cách nhượng quyền.