Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH THỰC PHẨM VÀ KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC NÀY 1. Lược sử hình thành và định nghĩa nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm 1. Lược sử hình thành của nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm Nhượng quyền thương mại đã được chứng minh là một trong những phương thức kinh doanh thành công nhất trong vòng 100 năm qua, kể từ sau Thế chiến thứ II. Nhượng quyền thương mại được cho là đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ 17-18 tại Châu Âu.
Nhưng nhượng quyền thương mại được chính thức thừa nhận tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ 19, khi mà nhà máy Singer (nhà máy phân phối máy khâu) ký kết hợp đồng nhượng quyền kinh doanh đầu tiên cho đối tác của mình vào năm 1851. Singer đã ký hợp đồng nhượng quyền và trở thành người đi đầu trong việc thoả thuận hình thức nhượng quyền. Trong thời gian này, khuôn khổ nhượng quyền chỉ liên quan đến chuyển quyền phân phối và bán sản phẩm của các nhà sản xuất. Sau chiến tranh thế giới thứ II, hình thức này đã thực sự bùng nổ và phát triển rất mạnh mẽ, với sự ra đời của hàng loạt hệ thống nhà hàng, khách sạn và các hệ thống phân phối theo kiểu bán lẻ đồng nhất về nhãn hiệu, cơ sở vật chất, cung cách phục vụ là đặc điểm cơ bản để nhận dạng những hệ thống kinh doanh theo phương thức này.
Sau đó, nhượng quyền thương mại trở thành phương thức kinh doanh hết sức thịnh hành, không chỉ tại Hoa Kỳ mà còn ở những nước phát triển khác như Anh, Pháp. Trên thế giới, toàn cầu hoá diễn ra nhanh và mạnh trong tất cả các lĩnh vực tạo điều kiện cho "làn sóng" nhượng quyền thương mại phát triển rầm rộ trong những năm gần đây. Nhiều tổ chức phi chính phủ với tôn chỉ thúc đẩy phát triển, hỗ trợ và quảng bá hoạt động nhượng quyền thương mại đã được thành lập. Điển hình là Hội đồng nhượng quyền thương mại Thế giới (World Franchise Council), ra 9 đời vào năm 1994, có thành viên là các hiệp hội nhượng quyền thương mại của nhiều quốc gia.
Ngoài ra, một tổ chức uy tín và lâu đời nhất là Hiệp hội nhượng quyền quốc tế (International Franchise Association) được thành lập năm 1960, có khoảng 30.000 thành viên bao gồm các doanh nghiệp nhượng quyền và nhận quyền. Năm 2017 tổng doanh thu hoạt động nhượng quyền thương mại trên thế giới chiếm hai nghìn tỷ USD và đứng đầu là Mỹ. Tại Mỹ, 90% công ty kinh doanh theo hình thức nhượng quyền thương mại tiếp tục hoạt động sau 10 năm và 5% công ty theo hợp đồng thương hiệu thất bại trong năm đầu tiên so với 38% công ty độc lập thất bại tại cùng thời điểm đó. Hoạt động nhượng quyền chiếm 1/4 tổng mức bán lẻ, thu hút 1/7 tổng lao động ở Mỹ và có hơn 500 nghìn cửa hàng nhượng quyền.
Ở Châu Âu, có hơn bốn nghìn hệ thống nhượng quyền; với hơn một nghìn cửa hàng nhượng quyền, doanh thu đạt khoảng 100 tỉ Euro, tạo ra hơn 1,5 triệu việc làm. Riêng ở Anh, nhượng quyền là một trong những hoạt động tăng trưởng nhanh nhất của nền kinh tế với khoảng 32 nghìn doanh nghiệp nhượng quyền, doanh thu trung bình 8,9 tỷ bảng Anh/năm, giải quyết việc làm cho 317 nghìn lao động và chiếm trên 1/3 thị phần bán lẻ. Tại Úc, có khoảng năm tư nghìn cửa hàng nhượng quyền, đóng góp 12% vào GDP và tạo hàng trăm ngàn việc làm cho người lao động [37]. Theo Hiệp hội nhượng quyền Quốc tế (IFA) thì nhượng quyền kinh doanh tại châu Á đã tạo doanh thu hơn 500 tỷ đô la Mỹ mỗi năm.
Từ năm 1980, nhượng quyền đã xuất hiện ở Trung Quốc. Đến năm 2004, nước này đã có trên hai nghìn hệ thống nhượng quyền (nhiều nhất thế giới), với 120 nghìn cửa hàng nhượng quyền ở hầu hết các lĩnh vực. Biểu đồ tăng trưởng hoạt động nhượng quyền của Trung Quốc “tăng tốc” kể từ khi nước này gia nhập WTO. Từ năm 2000, các cửa hàng nhận nhượng quyền tăng 55%, bình quân mỗi năm hệ thống nhượng quyền tăng 38%, vượt xa mức tăng trưởng 10%/năm của hàng tiêu dùng.
Đặc biệt, hệ thống nhượng quyền thương mại của doanh nghiệp Trung Quốc cạnh tranh ngang hàng với các thương hiệu nhượng quyền nổi tiếng của thế giới. Tại Thái Lan, số hợp đồng nhượng quyền đang tăng rất nhanh, trong đó có tới 67% thuộc khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bộ Thương mại 10 Thái Lan công bố chương trình khuyến khích và quảng bá thương hiệu nội địa ra thị trường thế giới thông qua hệ thống nhượng quyền thương mại. Các doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức này được hỗ trợ đào tạo trung và ngắn hạn về công nghệ nhượng quyền.
Do vậy, năm 2004 đạt doanh số 25 triệu Baht, năm 2005 tăng 10% và tăng rất nhanh cho các năm tiếp theo. Tại Nhật Bản, nhượng quyền phát triển mạnh từ năm 1996, đến năm 2004 đã có khoảng 220 nghìn cửa hàng kinh doanh theo hình thức nhượng quyền thương mại, doanh thu từ hệ thống này vào khoảng 150 tỉ USD, tăng trưởng 7%/năm [37]. Tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Công Thương, tính từ năm 2007 đến nay đã có 206 doanh nghiệp với hàng trăm nhãn hiệu được cấp phép nhượng quyền tại Việt Nam với nhiều mô hình kinh doanh, từ sản xuất dược phẩm đến cửa hàng cho thuê xe hay đào tạo bán hàng, cửa hàng tiện lợi, mô hình giáo dục trẻ em, kinh doanh quần áo, giày dép thời trang [40],… Tuy nhiên, nhiều nhất chính là các chuỗi nhà hàng ăn uống. Trên thực tế, phần lớn các thương hiệu được nhượng quyền tại Việt Nam đến từ các quốc gia châu Á.
Doanh nghiệp nhượng quyền thương mại mạnh nhất ở Việt Nam thời gian qua là Mc Donald’s, thương hiệu này đến thị trường Việt Nam vào giữa năm 2013 và chính thức 2014 đã triển khai nhượng quyền. Với tham vọng lớn về thị trường Việt Nam có tiềm năng như Trung Quốc nên Mc Donald’s đã đưa ra chỉ tiêu trong 2 năm từ 2014- 2016 sẽ phát triển 100 chi nhánh tại Việt Nam. Nhưng sau 4 năm Mc Donald’s đánh giá lại thị trường Việt Nam thì kế hoạch này phải đến năm 2024 mới thực hiện được. Bên cạnh McDonald’s, các thương hiệu khác cũng có nhượng quyền tại Việt Nam như: Baskin Robbins, Haagen-Dazs (Hoa Kỳ), Pizza Hut, Kentucky Fried Chicken, Pepper Lunch, Burger King (Singapore), Lotteria, Caffe Bene, Tous Les Jours, BBQ Chicken (Hàn Quốc), Swensen’s (Malaysia), Oasis, Karren Millen, Warehouse, Topshop, Coast London (Anh), Bulgari, Moschino, Rossi (Italy)… Trong khi đó một số doanh nghiệp Việt Nam cũng đã tích cực triển khai phát triển thương hiệu ở nước ngoài như Trung Nguyên, Phở 24, Kinh Đô Bakery, Ninomax, giày dép T&T… 11 Nước ta cũng đang được các chuyên gia nước ngoài đánh giá là một thị trường lý tưởng của hoạt động bán lẻ.
Theo Ông Luke Kim, Giám đốc Công ty A.S Louken của Singapore cũng cho biết hầu hết các thương hiệu trên thế giới nhượng quyền thành công tại Singapore như thương hiệu giày da thời trang Charles & Keiths và một số thương hiệu thức ăn nhanh như Break Talk, Cavana đều đang có ý định nhắm đến Việt Nam. "Thị trường VN đã bắt đầu chín muồi để các thương hiệu trong và ngoài nước áp dụng nhượng quyền thương mại", ông Luke Kim nhận xét [24]. Bà Nguyễn Phi Vân, Chủ tịch Công ty Retail & Franchise Asia, thành viên sáng lập và điều hành World Franchise Associated chia sẻ với báo chí, xu hướng các thương hiệu vào Việt Nam sẽ còn tiếp tục trong 3 năm tới. Trong số này, các thương hiệu từ khu vực (ví dụ như Malaysia, Singapore hay Thái Lan, Philippines) sẽ vào cùng với các thương hiệu quốc tế [27].
Định nghĩa nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm Nhượng quyền thương mại là một hình thức kinh doanh đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Nhiều định nghĩa được nêu ra của nhiều trường phái khác nhau nhằm giải thích, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh nhượng quyền đạt hiệu quả. Tuy nhiên, do sự khác biệt về quan điểm và môi trường kinh tế, chính trị, xã hội giữa các quốc gia, nên các định nghĩa này thường khác nhau. Các định nghĩa trình bày sau đây được chọn lọc dựa trên sự khác nhau trong việc quản lý, điều chỉnh các hoạt động nhượng quyền thương mại của một số quốc gia, tổ chức tiêu biểu.
Hiệp hội nhượng quyền quốc tế (The International Franchise Association) đã đưa ra định nghĩa nhượng quyền thương mại như sau: "Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền, theo đó Bên nhượng quyền đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của Bên nhận quyền trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh (know-how), đào tạo nhân viên; Bên nhận quyền hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh do Bên nhượng quyền sở hữu hoặc kiểm soát; và Bên nhận quyền đang, hoặc sẽ tiến hành đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình". 12 Theo Uỷ ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (The US Federal Trade Commission – FTC): “Hợp đồng nhượng quyền thương mại là hợp đồng theo đó Bên nhượng quyền: (i) hỗ trợ đáng kể cho Bên nhận quyền trong việc điều hành doanh nghiệp hoặc kiểm soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp của Bên nhận; (ii) li-xăng nhãn hiệu cho Bên nhận quyền để phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ theo nhãn hiệu hàng hóa của Bên nhượng quyền và (iii) yêu cầu Bên nhận quyền thanh toán cho Bên nhượng quyền một khoản phí tối thiểu.” Còn Cộng đồng chung Châu Âu (EC) (nay là Liên minh Châu Âu (EU)) chỉ ra nhượng quyền thương mại là một "Tập hợp những quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bí quyết, hoặc sáng chế sẽ được khai thác để bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ tới người sử dụng cuối cùng". Tại Việt Nam, khái niệm nhượng quyền thương mại được quy định tại Điều 284, Luật Thương mại 2005 như sau: “Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: 1.