Chương 1, tổng quan tài liệu, phạm vi và đối tượng của các nghiên cứu liên quan trước đây là không đủ rộng. Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu ăn chay trong nhận thức của người ăn chay nói chung. Do đó, số liệu quan trắc không đủ để phân tích đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu về ẩm thực chay Phật giáo. Thứ hai, chưa có nghiên cứu nào về các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu của người Hà Nội về ẩm thực chay Phật giáo.
Việc xem xét các nhân tố này là rất quan trọng để biết được chất lượng cuộc sống của người Hà Nội vì mức độ nhận thức của họ về các nhân tố tác động lên việc ăn chay có thể ảnh hưởng rất nhiều đến lối sống hàng ngày. Thứ ba, hầu hết các nghiên cứu liên quan trước đây đều không đưa ra các giải pháp cụ thể sau khi phân tích dữ liệu và kết quả để gia tăng nhu cầu của người Hà Nội về ẩm thực chay Phật Giáo, đồng thời chưa đưa ra được định hướng, giải pháp phù hợp cho các quán chay trên địa bàn Hà Nội để thu hút khách nhiều hơn. Vì vậy, để lấp đầy khoảng trống nghiên cứu, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu của người Hà Nội về ẩm thực chay Phật giáo cần được tiến hành để tìm hiểu vấn đề và đưa ra các khuyến nghị khả thi. CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT 2.
Nhu cầu của mọi người về ẩm thực chay Phật giáo 2. Định nghĩa về nhu cầu Thuyết phân tâm do Freud (1856 – 1939) xây dựng nên. Trong quá tình nghiên cứu của mình, ông cũng đã đề cập đến vấn đề nhu cầu của cơ thể trong “Lý thuyết bản năng của con người”. Ông khẳng định, Phân tâm học coi trọng nhu cầu tự do cá nhân như các nhu cầu tự nhiên, đặc biệt là nhu cầu tình dục.
Việc thoả mãn nhu cầu tình dục sẽ giải phóng năng lượng tự nhiên, và như thế, tự do cá nhân thực sự được tôn trọng, kìm hãm nhu cầu này sẽ dẫn đến hành vi mất định hướng của con người. “Khát dục trong Phân tâm học không có ý nói đến việc thoả mãn những khát khao thông thường mà là sự đòi hỏi thoả mãn những khát khao mãnh liệt. Những mong muốn này được thoả mãn sẽ đem lại cho con người những khoái cảm đặc biệt và sẽ tạo ra một trạng thái tâm lý sung sướng, khoan khoái, dễ chịu. Khi một khát vọng nào đó chưa được thoả mãn thì sự căng thẳng về mặt tâm lý lên đến tột đỉnh”.
Tiêu biểu cho lý thuyết về nhu cầu của trường phái tâm lý học nhân văn là “Thuyết thứ bậc nhu cầu” của A. Theo lý thuyết của ông thì nhu cầu của con người hình thành tạo nên một hệ thống và có thứ bậc từ cấp thiết đến ít cấp thiết hơn. Hệ thống đó được trình bày như sau: 1) Physiological: các nhu cầu cơ thể như đói, khát, mệt, .; 2) Safety/security: nhu cầu được an toàn, không bị nguy hiểm; 3) Belonginess and Love: nhu cầu sở hữu và yêu thương, liên hệ với người khác và được chấp nhận; 4) Esteem: nhu cầu được tôn trọng, được tán thành, được biết đến; 5) Cognitive: nhu cầu nhận thức, khám phá; 6) Aesthetic: nhu cầu thẩm mỹ, vươn tới cái đẹp; 7) Self-actualization: nhu cầu tự hoàn thiện, tự khẳng định mình; 8) Self-transcendence: nhu cầu tham gia vào những mối liên hệ liên cá nhân, vượt ra khỏi cái tôi của mình, giúp người khác tự khẳng định họ và tự nhận ra những giá trị của họ. Theo ông, tầm quan trọng của các nhu cầu được sắp xếp theo thứ tự từ dưới lên trên theo thang nhu cầu: từ mức thứ nhất đến mức thứ năm.
Bốn mức nhu cầu đầu tiên ông gọi đó là nhóm nhu cầu thiếu hụt. Còn ở mức thứ năm, ông chia nhỏ hơn: nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu sáng tạo, nhu cầu hiểu biết, ông gọi là nhóm các nhu cầu phát triển. Sự phân chia này tuy theo thang bậc nhưng nó không phải là cố định mà chúng linh hoạt, thay đổi tùy theo điều kiện cụ thể. Sau Cách mạng tháng Mười, nền tâm lý học ở Liên Xô đã có bước phát triển mạnh mẽ.
Dưới ánh sáng của triết học Mác – Lênin, các nhà tâm lý học Liên Xô khi nghiên cứu về con người, đời sống tâm lý người đã khẳng định: nhu cầu là yếu tố bên trong quan trọng đầu tiên thúc đẩy hoạt động của con người. Các nhà nghiên cứu tâm lý nổi tiếng của trường phái Gestal (Kutrtlevan, 1913) với các nghiên cứu của ông về vấn đề động cơ và nhân cách, tâm lý học xã hội đều có đề cập đến nhân tố thúc đẩy hoạt động của con người, không chỉ có xung năng mà còn có cả nhu cầu xã hội. Khi xuất hiện một nhu cầu nào đó, xuất hiện đồng thời liên tưởng có liên quan đến các nhu cầu đó của chủ thể. Với mọi ý nghĩ của con người đều có liên quan đến các nhu cầu khác nhau, vì vậy, tạo ra một chuỗi những căng thẳng là nguồn gốc tính cực của hoạt động, đồng thời mang tính tích cực hoạt động, giảm trạng thái căng thẳng đó.
Theo từ điển tiếng Việt (1996), nhu cầu là “đòi hỏi của đời sống, tự nhiên và xã hội”. Từ điển Wikipedia 2 nêu ra một số khái niệm: (1) Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau; (2) Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được; (3) Nhu cầu là nhân tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao.
Về mặt quản lý, kiểm 19 soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu). Trong marketing, Philip (2009) khái niệm nhu cầu được phân thành 02 loại: (1) là Nhu cầu cấp thiết (needs) của con người là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà họ cảm nhận được. Nhu cầu cấp thiết của con người rất đa dạng và phức tạp. Nó bao gồm cả những nhu cầu sinh lý cơ bản về ăn, mặc, sưởi ấm và an toàn tính mạng lẫn những nhu cầu xã hội như sự thân thiết gần gũi, uy tín và tình cảm cũng như các nhu cầu cá nhân về tri thức và tự thể hiện mình.
Nhu cầu cấp thiết là những phần cấu thành nguyên thủy của bản tính con người, không phải do xã hội hay người làm marketing tạo ra; còn Mong muốn của con người là một nhu cầu cấp thiết có dạng đặc thù, tương ứng với trình độ văn hóa và nhân cách của mỗi người. Mong muốn được biểu hiện ra thành những thứ cụ thể có khả năng thỏa mãn nhu cầu bằng phương thức mà nếp sống văn hóa của xã hội đó vốn quen thuộc; và (2) là Nhu cầu của con người là những mong muốn kèm thêm điều kiện có khả năng thanh toán. Các mong muốn sẽ trở thành nhu cầu khi được bảo đảm bởi sức mua. Theo Henrry (2012), khi nghiên cứu về vấn đề nhu cầu, ông khẳng định: “Nhu cầu là một tổ chức cơ động, hướng dẫn và thúc đẩy hành vi”.
Nhu cầu ở mỗi người khác nhau về cường độ, mức độ, đồng thời các loại nhu cầu chiếm ưu thế cũng khác nhau ở mỗi người. Tuy nhiên ông cũng đưa ra quan điểm tiến bộ về nhu cầu thể nghiệm ban đầu là cảm giác băn khoăn luôn ám ảnh, con người cũng như con người đều thiếu thốn một cái gì đó, nó là cần thiết của chủ thể cần cho hoạt động sống và do đó gây cho chủ thể một mục đích tính tích cực nhất định. Định nghĩa về ẩm thực chay và phân loại 2.1 Định nghĩa về ẩm thực chay Ăn chay thường được mô tả là một chế độ ăn kiêng đặc trưng bởi việc tiêu thụ thực phẩm có nguồn gốc thực vật và tránh một số hoặc tất cả thực phẩm có nguồn gốc động vật (Perry và cộng sự, 2001). Ăn chay là trong những phong cách ẩm thực đang phổ biến hiện nay và đang dần trở nên phổ biến ở các nước phát triển với mục đích là nhằm hướng tới sức khỏe tốt cho người tiêu dùng., Laurino C (2017) vào giữa thế kỷ 19, thuật ngữ “ăn chay” lần đầu tiên được đề cập, và được sử dụng để mô tả một chế độ ăn kiêng tránh một số hoặc tất cả các loại thực phẩm có nguồn gốc động vật.
Một người ăn chay có thể hiểu là khi người đó lựa chọn một số loại thực phẩm thường là các sản phẩm từ thực vật và loại bỏ một hoặc một số thực phẩm thường là các sản phẩm từ động vật khỏi thực đơn trong các bữa ăn hàng ngày của mình. Theo François Mariotti (2017) cho rằng: ăn chay là chỉ tất cả các loại chế độ ăn chay và người ăn chay mà không có sự phân biệt, tức là tất cả các chế độ ăn không bao gồm thịt và cá, bất kể các sản phẩm động vật khác như sữa hoặc trứng. Cũng giống như vậy Julie Edgar (2020): “Định nghĩa đơn giản nhất về ăn chay là một chế độ ăn không có thịt, cá và thịt gà”. Theo như Võ Thị Tân Vũ (2016) cho rằng: Ăn chay, trai, ăn lạt hay chủ nghĩa ăn chay là một chế độ ăn uống không gây ra tội, ác nghiệp (giết hại), chỉ gồm những thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật (trái cây, rau quả, vv.), có hoặc không ăn những sản phẩm từ sữa, trứng hoặc mật ong, hoàn toàn không sử dụng các loại thịt (thịt đỏ, thịt gia cầm và hải sản) hoặc không ăn các thực phẩm có được từ quá trình giết mổ.
Trong khi đó với Grace Hussian (2022), ăn chay không chỉ là việc cắt giảm khẩu phần thịt trong bữa ăn của mình mà nó còn là về lối sống. Đã viết: Mặc dù ăn thuần chay thường được coi là một chế độ ăn kiêng loại trừ tất cả các sản phẩm động vật, nhưng việc chọn ăn thuần chay cũng có thể đồng nghĩa với việc thay đổi lối sống sâu rộng hơn. Sống một lối sống thuần chay có nghĩa là kiêng, càng xa càng tốt và thực tế, khỏi bất cứ điều gì đòi hỏi sự bóc lột của một sinh vật sống khác.