chương 1 Trong chương đầu tiên, nghiên cứu đề cập về các thành phần của nghiên cứu, bao gồm mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu được sử dụng. Cuối cùng, mô tả tổng quan bố cục của bài nghiên cứu được thiết kế thành 5 chương và đáp ứng tất cả các yêu cầu về nội dung cần thiết của khóa luận. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm cơ bản 2.
Khái niệm nhân tố tác động đến kết quả học tập Tính đến hiện này, đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả học tập, ví dụ như: nghiên cứu của John & Frank (2016), Asvio và cộng sự (2017), Tokan & Imakulata (2019), Hamid (2019), Abdelrahman (2020), Raza và cộng sự (2020). Trong đó, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hai nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả học tập, bao gồm: nhóm yếu tố nội tại (thuộc đặc điểm cá nhân) và nhóm yếu tố bên ngoài (môi trường bên ngoài). Farooq (2011) cũng có nhận định tương tự và đây cũng là hai nhóm yếu tố quan trọng được nhiều nghiên cứu thực hiện trong thời gian gần đây. Khái niệm nhân tố nội tại Theo Hamid (2019), yếu tố nội tại là những yếu tố thuộc đặc điểm bên trong con người, yếu tố này thúc đẩy bản thân hướng đến những hành động cụ thể.
Hamdani (2011) cũng đưa ra nhận định yếu tố nội tại của sinh viên là những yếu tố xuất phát từ bên trong của sinh viên. Một nghiên cứu khác của Helme & Clarke (2001) cho rằng yếu tố nội tại có thể được nhóm lại theo động cơ của sinh viên, cụ thể là trong việc tham gia vào các hoạt động học tập và khả năng của sinh viên trong việc hoàn thành các hoạt động này. Martinez & Shaker (2021) thì cho rằng yếu tố nội tại được tạo ra bởi cảm xúc và suy nghĩ. Những suy nghĩ và cảm xúc tích cực sẽ giúp người học đưa ra những quyết định và hành động tích cực, ngược lại suy nghĩ tiêu cực có thể làm giảm động lực người học.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra, bản thân người học có thể kiểm soát suy nghĩ, cảm xúc từ đó có thể điều chỉnh đưa ra các quyết định và hành động mà nguồn gốc hình thành từ bên trong. Có thể nhận thấy điểm chung của các nhận định trên là yếu tố nội tại là những yếu tố xuất phát từ bản thân người học, do người học quyết định và tự điều chỉnh và người học hoàn toàn có thể kiểm soát được. Sinh viên có yếu tố nội tại sẽ duy trì việc học lâu hơn, từ đó giúp cải thiện kết quả học tập. Các nghiên cứu trước đây cũng tập trung xem xét mối quan hệ giữa nhóm yếu tố nội tại và kết quả học tập, trong đó nổi bật và phổ biến là yếu tố: động lực bên 6 trong, mục tiêu học tập, hành vi học tập, sự gắn kết, siêu nhận thức,… (nghiên cứu của Diseth & Kobbeltvedt, 2010; John & Frank, 2016; Asvio và cộng sự, 2017; Tokan & Imakulata, 2019; Abdelrahman, 2020; Raza và cộng sự, 2020).
Cụ thể: Động lực bên trong là động lực xuất phát từ sở thích, được thực hiện dựa trên niềm vui và mong muốn của bản thân. Theo Abdelrahman (2020), để đạt kết quả học tập xuất sắc cần có một động lực học tập nội tại cao vì chính sự quan tâm, yêu thích thực sự đối với môn học. Vì thế, sinh viên cần thúc đẩy động lực bên trong để đạt kết quả học tập như mong muốn. Mục tiêu học tập hay một số nghiên cứu còn gọi là mục tiêu thành thạo (mastery goals) là mục tiêu đạt được kiến thức hoặc kỹ năng mới, tập trung tăng khả năng của người học (Dweck & Elliott, 1983).
Mục tiêu học tập đòi hỏi người học phải tìm cách phát triển năng lực của bản thân (Grant & Dweck, 2003) vì thế người có mục tiêu học tập thường là người chủ động lên kế hoạch và có phương pháp học tập hiệu quả. Khi có mục tiêu, sinh viên sẽ chuyển đổi trạng thái, năng lượng và có những hành động mạnh mẽ để đạt mục tiêu (Djamarah, 2008). Để nâng cao kết quả học tập, xác định mục tiêu học tập là điều cần thiết với mỗi sinh viên bởi xác định mục tiêu là chiến lược quan trọng trong cải thiện kết quả học tập (Hattie, 2011). Hành vi học tập là những hành vi cần thiết để người học học tập hiệu quả trong môi trường lớp học (Ellis & Todd, 2018).
Trong quá trình học tập, thông qua việc quan sát cùng với khả năng đánh giá vấn đề, sinh viên rút ra những điểm cần cải thiện, sau đó điều chỉnh hành vi của bản thân để đạt mục tiêu học tập đề ra (còn gọi là hành vi tự điều chỉnh). Khi sinh viên tham gia vào lớp học đầy đủ và sâu sắc sẽ gặt hái nhiều kiến thức hơn, đồng thời thành tích học tập của sinh viên tham gia khóa học tốt hơn so với sinh viên không có sự tham gia (Sinaga, 2015; Abdelrahman, 2020). John Flavell (1976) đã khái quát siêu nhận thức là tư duy về tư duy, nhận thức về nhận thức. Brown (1987) cho rằng, siêu nhận thức là nhận thức về kiến thức và sự hiểu biết về kiến thức của bản thân.
Sinh viên có sự hiểu biết về nhận thức của bản thân cũng đồng thời biết những chiến lược và điều kiện nào phù hợp với họ trong việc học, vì thế giúp cải thiện, duy trì kết quả học tập. Bertolini và cộng sự (2012) đã chỉ ra nhận thức và siêu nhận thức là khả năng thuộc cá nhân và khả năng 7 này đạt được tốt nhất khi cá nhân hiểu cách đạt được sự hiểu biết và xử lý thông tin tốt nhất. Yusof và cộng sự (2017) cho rằng sự gắn kết là cách sinh viên cư xử, cảm nhận và suy nghĩ thông qua 3 thành phần: gắn kết hành vi, gắn kết cảm xúc và gắn kết nhận thức. Trong đó, gắn kết hành vi là việc tham gia các hoạt động học tập một cách tích cực, gắn kết cảm xúc liên quan đến phản ứng về mặt cảm xúc đối với nhà trường, giảng viên, bạn cùng lớp hay cảm giác thích thú thân thuộc khi tham gia lớp học (Fredricks và cộng sự, 2004).
Sinh viên học hỏi nhanh hơn từ chính bạn bè của mình thông qua việc tương tác và giao tiếp, chia sẻ kinh nghiệm (Sanjaya, 2008). Việc sinh viên tích cực tham gia vào lớp học có thể dự đoán thành tích học tập của mình (Froiland & Oros, 2014). Những yếu tố xuất phát từ bên trong con người sẽ tồn tại lâu hơn, chúng không phụ thuộc vào sự thúc đẩy hay ảnh hưởng của người khác, do đó xét về tính hiệu quả, các yếu tố này được đánh giá cao hơn trong việc duy trì, gia tăng thành tích học tập (Novi Asvio, 2017). Trong nghiên cứu này sẽ xem xét vai trò của yếu tố nội tại hay được gọi là đặc điểm sinh viên, được cấu thành từ các yếu tố: động lực bên trong, mục tiêu học tập, hành vi học tập, sự gắn kết, siêu nhận thức.
Khái niệm nhân tố bên ngoài Nhân tố bên ngoài là những yếu tố thuộc môi trường bên ngoài cá nhân (Hamid, 2019). Đối với sinh viên, nhân tố bên ngoài có thể xem là môi trường học đường (thuật ngữ bao hàm nhiều nhân tố liên quan đến quá trình học của sinh viên). Bởi việc học tập được trung gian từ sự tương tác của cá nhân và nhận thức về môi trường bên ngoài (Loup, 1994; Olivier, 2001). Trong lĩnh vực giáo dục, các nhân tố bên ngoài được quan tâm và chú trọng.
Những năm gần đây, xu hướng nghiên cứu về nhân tố này càng tăng với mục đích xem xét vai trò của nhân tố bên ngoài đến kết quả học tập, từ đó cải thiện môi trường học tập cho sinh viên, trong đó phổ biến là các yếu tố: giảng viên, môi trường học tập, cơ sở vật chất, cố vấn học tập (Novi Asvio, 2017; Nguyễn Thị Thu An và cộng sự, 2016; Lê Đình Hải, 2016; Đặng Thu Hà, 2017; Đinh Thị Hóa và cộng sự; 2018; Đinh Thị Thu Huyền và cộng sự, 2022). Cụ thể là: 8 Yếu tố giảng viên trong các nghiên cứu phản ảnh về kiến thức, cách tổ chức lớp học và cách tương tác lớp học với sinh viên hay Nguyễn Thị Thu An (2016) khái quát là năng lực giảng viên). Năng lực của giảng viên giúp sinh viên hiểu được giá trị và lợi ích của việc học tập từ đó sẽ giúp sinh viên thích thú hơn trong quá trình học tập để có kết quả học tập tốt hơn (Nguyễn Thị Thu An, 2016). Môi trường học tập là nơi diễn ra hoạt động giáo dục và chịu tác động từ các yếu tố bên ngoài đến tính bền vững của các hoạt động bên trong (Asvio và cộng sự, 2017).
Còn theo Adeogun & Olisaemeka (2011), môi trường học đường được định nghĩa là thước đo tổng hợp về đặc điểm của trường học như mối quan hệ giữa phụ huynh, giảng viên và ban giám hiệu, sự tác động với cơ sở vật chất. Văn hóa của trường học có thể ảnh hưởng đến cuộc sống và việc học của sinh viên. Bởi môi trường học tập tích cực, bình đẳng, hướng đến bền vững sẽ tạo ảnh hưởng tích cực và thúc đẩy sự tham gia lớp học của sinh viên để đạt kết quả học tập tốt (Rugutt & Chemosit, 2005). Cơ sở vật chất, kỹ thuật trường học là hệ thống các phương tiện vật chất, kỹ thuật phục vụ giáo dục và đào tạo học sinh (Đinh Thị Hóa và cộng sự, 2018).
Thông qua cơ sở vật chất, nhà trường cung cấp các điều kiện thuận lợi cho sinh viên học tập, từ học trong lớp đến ngoài lớp học cũng được vận hành tối ưu (Nugroho & Wibowo, 2019). Vì thế, tạo không gian thuận lợi cho việc học tập sẽ tạo nên tác động tích cực đến việc học và kết quả học tập của sinh viên (Shami & Hussain, 2005). Cố vấn học tập là người hướng dẫn và hỗ trợ sinh viên trong suốt khoảng thời gian học đại học. Cố vấn học tập giúp phát huy khả năng của sinh viên, giúp sinh viên định hướng mục tiêu, phương pháp học tập đồng thời hỗ trợ giải quyết các vấn đề trong học tập và định hướng nghề nghiệp (Lê Đình Hải, 2016).
Mỗi cố vấn học tập được xem là một “mắt xích” trong vòng tròn mối liên hệ giữa sinh viên - chương trình đào tạo - nhà trường (Trần Thị Minh Đức & Kiều Anh Tuấn, 2012). Vì thế, để đạt hiệu quả kết quả học tập, sinh viên cần nhận thức rõ ràng về vai trò của cố vấn.