CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRONG BỐI CẢNH DỊCH COVID 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về nhu cầu sử dụng mạng xã hội Manjur Kolhar, Raisa Nazir Ahmed Kazi, Abdalla Alameen trong nghiên cứu của mình đã cho rằng việc sử dụng trang mạng xã hội phổ biến trong giới sinh viên đại học vì sự sẵn có của điện thoại thông minh và dễ dàng truy cập các trang này thông qua máy tính ở nhà. Việc sử dụng phương tiện truyền thông xã hội làm giảm lượng thời gian mà sinh viên dành cho các hoạt động học tập.
Trong nghiên cứu này, chỉ 1% sinh viên sử dụng mạng xã hội cho mục đích học tập và phần lớn trong số họ sử dụng mạng xã hội cho mục đích phi học thuật để trò chuyện với những người khác (tức là WhatsApp, Facebook, Snapchat) và duyệt các trang mạng xã hội để trôi qua thời gian. Hiện tại, các nền tảng mạng xã hội có thể được sử dụng để lấy thông tin cần thiết phục vụ mục đích giáo dục. Nghiên cứu này xác định tỷ lệ phần trăm sinh viên cảm thấy bị lôi cuốn vào mạng xã hội hơn là các hoạt động học tập và ưu tiên sử dụng mạng xã hội cho mục đích vui vẻ hơn là mục đích học tập [21]. Bashir cho rằng hầu hết sinh viên sử dụng mạng xã hội cho các nhu cầu đọc và nghiên cứu liên quan đến khóa học, do tính thân thiện với người dùng và tiết kiệm thời gian.
Họ cũng nhận thấy Google và Yahoo là công cụ tìm kiếm chính được các sinh viên sử dụng nhiều nhất. Mỗi sinh viên sử dụng mạng xã hội cho nhiều mục đích khác nhau. Song tựu chung lại vẫn là phục vụ mục đích giải trí, giao tiếp và tìm kiếm thông tin trong học tập [19]. Adekunmisi và cộng sự phát hiện ra rằng hầu hết sinh viên tại Đại học Olabisi Onabanjo, Nigeria sử dụng các phương tiện internet, chẳng hạn như email, trang web và công cụ tìm kiếm cho các hoạt động trò chuyện và học tập.
Các tác giả cho rằng các phương tiện này đem lại nhiều thuận lợi cho người dùng. Ví dụ như: Tiết kiệm thời gian, có thể sử dụng bất cứ lúc nào, thông tin phong phú [18]. 4 Tác giả Tống Thị Thu Hương cho rằng sự xuất hiện của MXH với những tính năng, nguồn thông tin phong phú, đa dạng, đã thật sự đi vào đời sống của cư dân mạng. Với những chức năng đa dạng kéo theo sự gia tăng ngày càng đông đảo, Internet ở một khía cạnh nào đó đã làm thay đổi thói quen, tư duy, lối sống, văn hóa… của một bộ phận giới trẻ ngày nay.
Giới trẻ với những đặc điểm phát triển tâm lý đa dạng có những nhu cầu riêng và là người tiếp nhận tích cực những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đồng thời cũng chịu tác động của các phương tiện nghe nhìn nhiều nhất trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực [13]. Tác giả Đặng Thị Nga cho rằng mạng xã hội đóng một vai trò nhất định và ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với học tập cũng như trong cuộc sống tinh thần của sinh viên CĐSP Thái Bình. Đặc biệt, trong giai đoạn toàn cầu hoá- hiện đại hoá, sự có mặt của mạng xã hội đã đáp ứng nhu cầu sử dụng của sinh viên CĐSP Thái Bình và chính nó cũng đang dần trở thành người bạn thân thiết của họ. Vì vậy, phần lớn nhóm sinh viên tham gia ngẫu nhiên trong nghiên cứu đều sử dụng mạng xã hội và cho rằng, mạng xã hội đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của họ.
Những mạng xã hội mà sinh viên thường xuyên sử dụng là Facebook, Ofera, Zingme, Google, Youtube [23]. Tóm lại, những nghiên cứu trên đã chỉ ra các khía cạnh khác nhau của nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên. Các tác giả đã tập trung xác định được vai trò của mạng xã hội trong cuộc sống của các sinh viên nó tác động lên mọi mặt và đặc biệt là giải trí. Điều này giúp chúng tôi vạch ra hướng nghiên cứu cho đề tài của mình.
Những nghiên cứu về nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong bối cảnh dịch Covid Md. Mazharul Islam, Faroque Ahmed, Afrin Sadia Rumana trong nghiên cứu của mình cho rằng: Sự gia tăng việc sử dụng mạng internet và mạng xã hội của công dân Bangladesh đã giúp hỗ trợ nhau đối phó với đại dịch Covid-19. Tại Bangladesh, tổng số người dùng Internet chiếm 66,44 triệu (40,27% tổng dân số) vào tháng 1 năm 2020, trong khi 36,00 triệu (21,82% tổng dân số) người sử dụng phương tiện truyền thông xã hội. Số lượng người dùng mạng xã hội đã tăng 3,0 triệu người (+ 9,1%) từ tháng 4 năm 2019 đến tháng 1 năm 2020 và tỷ lệ truy cập mạng xã hội của mọi người đạt 22% vào tháng 1 năm 2020 (Simon2020).
Báo cáo mới nhất được GlobalStat tiết lộ (năm 2021) cho thấy người dùng mạng xã hội ở Bangladesh bao gồm Facebook (85,85%), YouTube 5 (3,88%), Twitter (8,81%), WhatsApp (0,82%), Linkedin (0,46%), Ins-tagram (0,08%), Reddit (0,06%) và Tumblr (0,04%) tính đến tháng 12 năm 2020. Việc sử dụng mạng xã hội ngày càng gia tăng cho thấy vai trò sáng tạo trong việc đối phó với đợt bùng phát Covid - 19 ở Bangladesh mọi người đang ở trong nhà, chứng kiến sự phong toả trên toàn quốc trong đợt dịch đầu tiên. [22] Trong nghiên cứu của Virginia Pressly đã chỉ ra rằng sinh viên đại học đã có những thay đổi trong việc sử dụng mạng xã hội của họ trong đại dịch COVID, và những tác động của việc sử dụng mạng xã hội của họ đã có những tác động tiêu cực đến đời sống của họ. Kể từ khi bắt đầu đại dịch, sinh viên đã sử dụng ngày càng nhiều mạng xã hội với hơn một nửa số người được hỏi trong nghiên cứu họ dành trung bình ba giờ một ngày hoặc hơn để dành cho việc truy cập mạng xã hội.
Hậu quả của cuộc khủng hoảng sức khỏe toàn cầu làm gia tăng căng thẳng và lo lắng, sinh viên chuyển sang các nền tảng giải trí và truyền thông như TikTok và Snapchat nhiều hơn là họ chuyển sang các nền tảng chia sẻ ảnh như Instagram. [23] Fariha Hanif, Mariley Polanco và Fatima Warda trong nghiên cứu của họ đã đưa ra rằng các nền tảng mạng xã hội đã được sử dụng rất nhiều trong thời kỳ đại dịch này để duy trì liên lạc với gia đình và bạn bè và giảm sự cô lập và buồn chán, vốn liên quan đến lo lắng và đau khổ lâu dài. Mạng xã hội đã trở thành một nơi mà mọi lễ kỷ niệm được truyền phát, lễ tốt nghiệp, đám cưới, tiết lộ giới tính và sinh nhật, tất cả những điều này đều được chia sẻ trên mạng xã hội nhằm cố gắng cảm thấy gần gũi với những người đang ở khoảng cách xa và theo cách để chia sẻ cùng một cảm giác với tất cả những người thân yêu của chúng ta ngay cả qua màn hình. [20] Trong nghiên cứu của Phạm Bích Diệp, Vũ Minh Phương, Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Thị Hồng Diễm, Kim Bao Giang đã chỉ ra rằng gần 90% sinh viên đang sử dụng MXH để học hàng ngày hoặc hàng tuần trong khoảng thời gian dịch Covid 19 và 63,3% sinh viên đã sử dụng MXH để học nhiều hơn trước khi Covid19 xuất hiện.
Hầu hết tất cả sinh viên (99,7%) cho biết sử dụng MXH để học tập, Hình thức học tập MXH được ưa thích nhất là Facebook. Hầu hết sinh viên đều cho rằng việc sử dụng MXH để học tập là thuận tiện và hữu ích. Các hoạt động được nghiên cứu thông qua Zoom, thảo luận nhóm trực tuyến và chia sẻ thông tin qua Facebook. Do đó, sau khi thỏa mãn những nhu cầu vật chất tối thiểu thì nhu cầu tinh thần sẽ phát triển và trở thành một động lực thúc đẩy sự hoạt động của con người, thúc đẩy sự phát triển của xã hội”.
[7] Theo tác giả Nguyễn Khắc Viện thì “Nhu cầu là điều kiện cần thiết để đảm bảo tồn tại và phát triển, khi đƣợc thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì khó chịu căng thẳng, ấm ức”.226] Theo tác giả Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, Phạm Minh Hạc thì “Để tồn tại và phát triển cá nhân phải đòi hỏi ở môi trường xung quanh những cái cần thiết (không thể thiếu) cho mình. Sự đòi hỏi ấy là nhu cầu của cá nhân. Nói đến nhu cầu là nói đến sự đòi hỏi của cá nhân về một cái gì đó ở ngoài nó, cái đó có thể là một sự vật, một hiện tượng hoặc những cái khác. Trong ý nghĩa đó, nhu cầu biểu lộ sự gắn bó của cá nhân với thế giới xung quanh, sự phụ thuộc của cá nhân vào thế giới đó” [9].
Trên cơ sở phân tích, tiếp thu quan điểm của các nhà nghiên cứu về nhu cầu và trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi sử dụng định nghĩa: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển, là sự biểu hiện mối quan hệ qua lại giữa con người với những điều kiện cụ thể, luôn biến đổi của đời sống”. Đặc điểm nhu cầu Tính đối tượng: Theo X. Rubinstein, ở cấp độ tâm lý, nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng xác định. Đối tượng của nhu cầu nằm ngoài chủ thể, đồng thời là cái chứa đựng khả năng thỏa mãn nhu cầu.
Tính ổn định (tính chu kỳ) của nhu cầu: Trong xu thế vận động, nhu cầu có thể xuất hiện lặp đi lặp lại (thông thường ở mức độ cao hơn) khi sự đòi hỏi nhu cầu tái hiện. Ở cấp độ tâm lý, nhu cầu có tính ổn định, tính ổn định này thể hiện ở tần số xuất hiện một cách thường xuyên, liên tục. Phương thức thỏa mãn nhu cầu: Nhu cầu được thỏa mãn thông qua hoạt động. Chỉ có thông qua hoạt động thì đối tượng của nhu cầu mới được bộc lộ và đáp ứng nhu cầu.
Chỉ có thông qua hoạt động có đối tượng, nhu cầu mới được cụ thể hóa về mặt tâm lý và mới được thỏa mãn. Tính lịch sử của nhu cầu: Nhu cầu luôn luôn biến đổi theo thời gian, khi nền sản xuất biến đổi, các sản phẩm mà nó sản xuất cũng sẽ thay đổi, dẫn tới việc các nhu cầu được đáp ứng bằng những sản phẩm mới hơn so với trước. Các mức độ của nhu cầu 8 Mức độ nhu cầu được thể hiện tăng dần, từ ý hướng lên ý muốn và cuối cùng là ý định. Ý hướng, ý muốn, ý định là các mức độ cụ thể biểu hiện mức độ của nhu cầu.
+ Ý hướng Ý hướng là bước đầu của nhu cầu.