Nhu cầu học tài liệu tiếng Anh của sinh viên trường Đại học Kinh tế Huế

Khám phá nhu cầu học tài liệu tiếng Anh của sinh viên trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế qua luận văn thạc sĩ chi tiết và sâu sắc.

Trường đại học

Đại học Kinh tế Huế

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo tổng kết đề tài khoa học

2017

104
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC SƠ ĐỒ

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề nhu cầu, nhu cầu học tập

1.2. Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

1.2.1. Nghiên cứu của các nhà tâm lý học phương Tây

1.2.2. Nghiên cứu của các nhà tâm lý học Xô Viết

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Giới thiệu chung về trường đại học Kinh Tế

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

2.1.2. Sứ mệnh – Tầm nhìn – Giá trị cốt lõi

2.1.3. Cơ cấu tổ chức

2.2. Thực trạng giảng dạy bằng tài liệu tiếng Anh tại trường Đại học Kinh tế Huế

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Các phương pháp nghiên cứu chính

2.3.2. Mô hình nghiên cứu

2.3.3. Phương pháp chọn mẫu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Mô tả mẫu

3.2. Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy

3.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

3.4. Phân tích nhân tố đối với biến độc lập

3.5. Phân tích nhân tố đối với biến phụ thuộc

3.6. Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến nhu cầu học bằng tài liệu tiếng Anh của sinh viên trường Đại học Kinh Tế - Đại học Huế

3.6.1. Mô hình hồi quy tổng quát

3.6.2. Kiểm định hệ số tương quan

3.6.3. Xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính

3.6.3.1. Đánh giá mô hình hồi quy tuyến tính
3.6.3.2. Kiểm định phân phối chuẩn
3.6.3.3. Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính
3.6.3.4. Kiểm định đa cộng tuyến

4. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC BẰNG TÀI LIỆU TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC HUẾ

4.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp

4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả việc học bằng tài liệu tiếng Anh tại trường Đại học Kinh Tế Huế

4.2.1. Đối với bản thân mỗi sinh viên

4.2.2. Đối với giảng viên

4.2.3. Đối với tài liệu tiếng Anh

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc học tài liệu tiếng Anh trở thành một yêu cầu thiết yếu đối với sinh viên, đặc biệt là sinh viên Đại học Kinh tế Huế. Nhu cầu này không chỉ giúp sinh viên nâng cao kỹ năng tiếng Anh mà còn mở rộng cơ hội nghề nghiệp trong tương lai. Việc sử dụng tài liệu tiếng Anh trong học tập giúp sinh viên tiếp cận với kiến thức chuyên ngành một cách hiệu quả hơn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc học tiếng Anh chuyên ngành do sự khác biệt về trình độ và phương pháp giảng dạy. Do đó, nghiên cứu về nhu cầu học tài liệu tiếng Anh của sinh viên là rất cần thiết để cải thiện chất lượng đào tạo và đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá nhu cầu học tài liệu tiếng Anh của sinh viên tại Đại học Kinh tế Huế. Nghiên cứu sẽ hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nhu cầu học tiếng Anh, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả học tập bằng tài liệu tiếng Anh. Việc này không chỉ giúp sinh viên cải thiện kỹ năng tiếng Anh mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và nghiên cứu trong môi trường quốc tế.

II. Cơ sở lý luận vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về nhu cầu học tập đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm. Các lý thuyết như thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow hay thuyết ERG của Alderfer đã chỉ ra rằng nhu cầu học tập không chỉ phụ thuộc vào yếu tố cá nhân mà còn bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh. Đặc biệt, trong bối cảnh Đại học Kinh tế Huế, việc áp dụng tài liệu tiếng Anh trong giảng dạy cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo rằng sinh viên có thể tiếp cận và hiểu được nội dung học tập. Việc nghiên cứu này sẽ giúp xác định rõ hơn về nhu cầu học tài liệu tiếng Anh và các yếu tố tác động đến nó.

2.1. Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tài liệu tiếng Anh đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao kỹ năng tiếng Anh của sinh viên. Các tác giả nước ngoài đã chỉ ra rằng việc sử dụng tài liệu tiếng Anh trong giảng dạy không chỉ giúp sinh viên cải thiện khả năng ngôn ngữ mà còn tăng cường khả năng tiếp cận kiến thức chuyên ngành. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nơi mà tiếng Anh trở thành ngôn ngữ chính trong giao tiếp và học tập. Nghiên cứu này sẽ cung cấp cơ sở lý luận vững chắc cho việc áp dụng tài liệu tiếng Anh trong chương trình giảng dạy tại Đại học Kinh tế Huế.

III. Thực trạng giảng dạy bằng tài liệu tiếng Anh tại trường Đại học Kinh tế Huế

Thực trạng giảng dạy bằng tài liệu tiếng Anh tại Đại học Kinh tế Huế cho thấy nhiều sinh viên vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận và sử dụng tài liệu tiếng Anh. Mặc dù trường đã áp dụng nhiều phương pháp giảng dạy hiện đại, nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế trong việc truyền đạt kiến thức. Nhiều sinh viên cho rằng tài liệu tiếng Anh còn khó hiểu và không phù hợp với trình độ của họ. Do đó, việc nghiên cứu và đánh giá thực trạng này là rất cần thiết để tìm ra các giải pháp cải thiện hiệu quả học tập cho sinh viên.

3.1. Đánh giá thực trạng

Đánh giá thực trạng cho thấy rằng sinh viên Đại học Kinh tế Huế có nhu cầu cao về việc học tài liệu tiếng Anh, nhưng khả năng tiếp cận và sử dụng còn hạn chế. Nhiều sinh viên cảm thấy thiếu tự tin khi học các môn chuyên ngành bằng tiếng Anh. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập mà còn tác động đến sự phát triển nghề nghiệp sau này. Việc cải thiện chất lượng giảng dạy và cung cấp tài liệu tiếng Anh phù hợp sẽ giúp sinh viên nâng cao kỹ năng tiếng Anh và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động.

25/01/2025
Luận văn thạc sĩ nhu cầu học bằng tài liệu tiếng anh của sinh viên trường đại học kinh tế đại học huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề nhu cầu, nhu cầu học tập Đề tài tập trung nghiên cứu nhu cầu học tập của sinh viên trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay với tư cách là động lực thúc đẩy sinh viên học tập, nâng cao nhận thức, góp phần tạo ra của cải vật chất cho chính sinh viên và cho sự phồn vinh của toàn xã hội nên cần thiết phải điểm qua các nghiên cứu đã được tiến hành trong và ngoài nước về vấn đề nhu cầu cũng như nhu cầu học tập. Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 1.

Nghiên cứ u về nhu cầ u - Nghiên cứu của các nhà tâm lý học phương Tây Nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý chi phối một cách mạnh mẽ đời sống tâm lý cũng như hành vi của con người được nhiều ngành khoa học nghiên cứu và ứng dụng vào các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống như quản lý, kinh doanh, giáo dục. Trong tâm lý học phương Tây, vấn đề nhu cầu được khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới, trong đó có thể kể đến một số lý thuyết tiêu biểu sau: + Lý thuyết phân cấp nhu cầu: A.Maslow (1908- 1966), một nhà tâm lý theo trường phái tâm lý học nhân văn là tác giả của thuyết này.Freud đề cao cái vô thức đặc biệt là bản năng tình dục của con người, A.Maslow cố gắng lý giải và chứng minh rằng tính xã hội nằm ngay trong chính bản tính của con người. Ông phân nhu cầu của con người thành 5 loại theo thang bậc từ thấp đến cao: 1. nhu cầu sinh lý, 2.

nhu cầu an toàn, 3. nhu cầu về sự liên kết và chấp nhận, 4. nhu cầu được tôn trọng, 5. nhu cầu hiện thực hóa cái tôi.

Hệ thống nhu cầu của con người được xác định theo sơ đồ hình tháp, trong đó các nhu cầu cơ bản và ở cấp thấp nằm ở dưới đáy còn các nhu cầu ở cấp cao hơn nằm ở trên đỉnh thang. Quá trình hình thành các nhu cầu tuân theo nguyên tắc: trước khi các nhu cầu bậc cao phát huy vai trò động lực thì bản thân các nhu cầu bậc thấp (sinh học) ở con người cần phải được thỏa mãn và chỉ khi chúng được thỏa mãn, tính cấp bách của chúng giảm đi thì những động cơ bổ sung của hoạt động là các nhu cầu ở trình độ tiếp theo mới xuất hiện. Đánh giá về lý thuyết của Maslow nhà tâm lý học người Nga B. Lomov trong cuốn Những vấn đề lý luận và phương pháp luận tâm lý học cho rằng "Tháp Maslow" bao gồm cả những nhu cầu có nguồn gốc sinh học và xã hội, thế nhưng "đặc điểm của các mức độ nêu trên hết sức vô định hình.

Điều đó nảy sinh do Maslow đưa ra nhu cầu của một cá nhân trừu tượng, tách nó ra khỏi hệ thống quan hệ xã hội, đặt nhu cầu cá nhân nằm ngoài mối liên hệ với xã hội". Và cũng theo Lomov thì lý thuyết 4 Luan van này chưa lí giải được "trong những điều kiện xã hội nào nhu cầu đó được thỏa mãn và những nguyên nhân chuyển tiếp nào từ mức độ này sang mức độ khác. ông không khắc phục sự đối kháng giữa cá nhân và xã hội được phổ biến trong tâm lý học phương Tây" lúc đó. Mặc dù còn có hạn chế song cần phải thừa nhận lý thuyết của Maslow là một trong những lý thuyết về nhu cầu được nhắc đến nhiều nhất trong các sách giáo khoa và tài liệu tham khảo tâm lý học đồng thời được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống xã hội đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý, sản xuất, tham vấn.

Các doanh nghiệp rất quan tâm ứng dụng lý thuyết này trong thực tiễn thể hiện ở việc chăm lo đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người lao động (cả vật chất và tinh thần), cải thiện mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thúc đẩy năng suất, tiết kiệm chi phí sản xuất nâng cao lợi nhuận cho đơn vị mình. Từ góc độ tiếp cận của thuyết phân cấp nhu cầu Maslow có thể thấy nhu cầu học tập của gia đình nằm trên một phổ khá rộng, từ bậc thang nhu cầu an toàn ở gần cuối tháp cho tới các bậc thang phía trên như nhu cầu về sự liên kết và chấp nhận, nhu cầu về sự tôn trọng, nhu cầu hiện thực hóa cái tôi. Giáo sư tâm lý học người Mỹ Clayton Alderfer (1969) sau một loạt các nghiên cứu đã xây dựng nên thuyết ERG. Thuyết này cho rằng hành động của con người bắt nguồn từ nhu cầu song cùng một lúc họ có thể theo đuổi cả ba nhu cầu cơ bản: nhu cầu tồn tại, nhu cầu quan hệ và nhu cầu phát triển, chứ không nhất thiết phải theo trật tự từ thấp đến cao như trong lý thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow.

Nhu cầu tồn tại (E: Existence needs):bao gồm những đòi hỏi vật chất tối cần thiết cho sự tồn tại của con người, nhóm nhu cầu này có nội dung giống nhu cầu sinh lý và an toàn của tác giả Maslow. Nhu cầu quan hệ (R: Relatedness needs): là những đòi hỏi về những quan hệ và tương tác qua lại giữa các cá nhân, nhu cầu quan hệ bao gồm nhu cầu xã hội và một phần nhu cầu được tôn trọng. Nhu cầu phát triển (G: Growth needs): là đòi hỏi bên trong mỗi con người cho sự phát triển mỗi cá nhân, nó bao gồm nhu cầu tự thể hiện và một phần nhu cầu tự trọng (tự trọng và tôn trọng người khác). Những lý thuyết về nhu cầu của các học giả phương Tây đều thừa nhận tính chất xã hội của nhu cầu, coi trọng nhu cầu tinh thần của con người.

Tuy nhiên, họ chưa chỉ ra được cơ chế hình thành cũng như nguyên tắc của việc hình thành và phát triển nhu cầu. - Nghiên cứu của các nhà tâm lý học Xô Viết Nghiên cứu nhu cầu trong nghiên cứu tâm lý con người, dòng phái tâm lý học này lấy triết học mác xít, chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương 5 Luan van pháp luận trong nghiên cứu tâm lý con người. Vấn đề nhu cầu được các nhà tâm lý học Hoạt động quan tâm xem xét theo các hướng sau: D.Uznatze - tác giả của thuyết tâm thế - là người đã khám phá ra sự liên quan giữa nhu cầu với hành vi của con người, tương ứng với mỗi kiểu hành vi là một loại nhu cầu cơ bản. Sự tích cực của con người do nhu cầu tạo ra; nhu cầu xác định xu hướng và tính chất của hành vi, giữa nhu cầu và hành vi có mối quan hệ mật thiết nên Uznatze đã dựa vào nhu cầu để phân loại các hành vi của con người thành những hành vi có nguồn gốc bên ngoài và những hành vi có nguồn gốc bên trong.

Cũng theo Uznatze thì đồng thời với những nhu cầu mang tính bản năng sinh vật như đói, rét, tình dục. (còn gọi là những nhu cầu bậc thấp), ở con người còn có những nhu cầu bậc cao, đó là những nhu cầu trí tuệ, đạo đức và thẩm mỹ. Vấn đề là ở chỗ đối với mỗi người thì nhu cầu này hay nhu cầu khác mang tính ưu thế và áp đảo. Đặc biệt hơn, xuất phát từ quan điểm của C.Mác coi bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, nhà tâm lý học X.Rubinxtêin lại cho rằng nhu cầu của con người thể hiện sự liên kết, nhu cầu có thể bị tác động bởi hoàn cảnh bên ngoài, tức là những yếu tố của môi trường xung quanh có thể làm thay đổi nhu cầu, có thể theo xu hướng làm tăng nhu cầu và cũng có thể làm hạn chế nhu cầu.

Nhu cầu là sự đòi hỏi về "cái gì đó" nằm ngoài chủ thể. "Cái gì đó" chính là đối tượng của nhu cầu, có khả năng đem lại sự thỏa mãn nhu cầu thông qua hoạt động của chủ thể. Theo Rubinxtêin, quá trình hình thành và phát triển một nhu cầu cụ thể luôn có sự tham gia của ý thức ở những mức độ khác nhau và trải qua một số giai đoạn như sau: Ý hướng Là bước khởi đầu của nhu cầu. Ở mức độ này, nhu cầu chưa được phản ánh đầy đủ, rõ ràng vào ý thức mà chủ thể mới chỉ ý thức được trạng thái thiếu hụt của bản thân về một cái gì đó nhưng chưa ý thức đầy đủ về đối tượng và khả năng thỏa mãn nhu cầu.

Điều này thúc đẩy chủ thể tích cực tìm kiếm đối tượng và phương thức thỏa mãn để giải quyết nó. Khi chủ thể tự trả lời được câu hỏi "thiếu hụt về cái gì" thì lúc đó nhu cầu đã chuyển sang mức độ cao hơn, đó là ý muốn. Ý muốn Ở giai đoạn này, chủ thể đã ý thức được đối tượng chứa đựng khả năng thỏa mãn nhu cầu, mục đích hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu. Nghĩa là, chủ thể đã ý thức cả về đối tượng của nhu cầu và cả mục đích, động cơ hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tuy nhiên vẫn tiếp tục tìm kiếm các phương thức và điều kiện thỏa mãn nhu cầu.

Khi cách thức thỏa mãn nhu cầu được chủ thể ý thức đầy đủ thì nhu cầu sẽ chuyển sang mức độ cao hơn nữa, đó là ý định. Ý định 6 Luan van Đến giai đoạn này, chủ thể ý thức đầy đủ cả về đối tượng lẫn cách thức, điều kiện nhằm thỏa mãn nhu cầu, xác định rõ khuynh hướng của nhu cầu và sẵn sàng hoạt động. Nhu cầu đã có hướng và đã được “động cơ hóa”, xuất hiện tâm thế sẵn sàng hoạt động để thỏa mãn nhu cầu. Nhu cầu trở thành sức mạnh nội tại thúc đẩy mạnh mẽ chủ thể hoạt động nhằm thỏa mãn nó.

Đồng thời, lúc này chủ thể có khả năng hình dung về kết quả của hoạt động. Qua đó, Rubinxtêin cho rằng để tồn tại và phát triển con người luôn phải hoạt động nhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định. Một lần nữa khẳng định, nhu cầu tất yếu phải kéo theo hành động. Nhu cầu của con người vừa mang tính tích cực vừa mang tính thụ động.

Tính tích cực của nhu cầu thể hiện: nhu cầu thúc đẩy chủ thể tích cực hoạt động tìm kiếm các cách thức, phương tiện, đối tượng để thỏa mãn nó. Tính thụ động thể hiện ở chỗ khả năng thỏa mãn nhu cầu lệ thuộc vào chính thế giới đối tượng tồn tại trong hiện thực khách quan. Tính tích cực của nhu cầu thể hiện cao hay thấp là phụ thuộc vào các mức độ của nhu cầu (ý hướng, ý muốn, ý định).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài báo "Nhu cầu học tài liệu tiếng Anh của sinh viên trường Đại học Kinh tế Huế" của các tác giả Trần Thị Mai, Trần Thị Minh Trang, Trần Thị Thanh Hoài và Trương Minh Tuyn, được thực hiện vào năm 2017, tập trung vào việc khảo sát nhu cầu học tiếng Anh của sinh viên tại Đại học Kinh tế Huế. Bài báo chỉ ra rằng việc sử dụng tài liệu tiếng Anh không chỉ giúp sinh viên nâng cao kỹ năng ngôn ngữ mà còn hỗ trợ họ trong việc tiếp cận kiến thức chuyên ngành. Những lợi ích này không chỉ giúp sinh viên tự tin hơn trong giao tiếp mà còn mở rộng cơ hội nghề nghiệp trong tương lai.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh khác liên quan đến việc học tiếng Anh, bạn có thể tham khảo bài viết Động lực học tiếng Anh của sinh viên không chuyên tại Đại học Quy Nhơn, nơi nghiên cứu về động lực học tiếng Anh của sinh viên không chuyên, hay Khó khăn trong việc nói tiếng Anh của sinh viên trưởng thành: Nghiên cứu trường hợp tại Đại học Thủ Dầu Một, bài viết này phân tích những thách thức mà sinh viên gặp phải trong việc giao tiếp bằng tiếng Anh. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Nhận thức về phương pháp giảng dạy tiếng Anh trong các trường đại học kỹ thuật Việt Nam, để có cái nhìn tổng quan hơn về các phương pháp giảng dạy tiếng Anh hiện nay. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về nhu cầu và thách thức trong việc học tiếng Anh tại các cơ sở giáo dục khác nhau.