CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU I. Một số khái niệm và quy định: 1. Sức khỏe Theo tuyên ngôn của Tổ chức Y tế thế giới tại Alma-Ata năm 1978 thì “Sức khỏe là một trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh hay tàn tật” [61]. Định nghĩa sớm và thông dụng nhất về Y học gia đình (YHGĐ) là của Uỷ ban chuẩn bị thực hành đa khoa của Hiệp hội bác sĩ Hoa Kỳ (AMA), theo đó chăm sóc theo YHGĐ là “những chăm sóc y tế được thực hiện bởi các bác sĩ chịu trách nhiệm chăm sóc toàn diện và liên tục cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, không kể tuổi tác” [47] Theo định nghĩa của WONCA, “Bác sỹ gia đình (BSGĐ) là những thầy thuốc chịu trách nhiệm CSSK toàn diện và liên tục cho tất cả các cá nhân trong bối cảnh gia đình, cho các gia đình trong bối cảnh cộng đồng, không phân biệt tuổi, giới, chủng tộc, bệnh tật cũng như điều kiện văn hoá và tầng lớp xã hội” [46] 1.
Khái niệm về chăm sóc sức khỏe con người theo định hướng công bằng hiệu quả Đây là tư tưởng và quan điểm để xây dựng nền y tế của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt nam. Nội dung cơ bản của tư tưởng này xuất phát từ quan điểm coi con người là vốn quí, trong đó sức khỏe là yếu tố quan trọng nhất. Mọi người không phân biệt giàu nghèo đều phải được CSSK, không để tình trạng người bị bệnh tật vì nghèo mà chưa được cứu chữa. Chính phủ Việt Nam đã có những chính sách ưu tiên CSSK cho người có công với cách mạng, cho nhân dân ở vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa.
Công bằng trong CSSK không đồng nghĩa với việc mọi người đều được chăm sóc như nhau. Việc CSSK trước hết phải xuất phát từ nhu cầu , vào tình trạng bệnh lý và phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước hay của từng địa phương [29]. Nghị quyết trung ương 4 (khóa VII) đã nêu 5 quan điểm cơ bản của Đảng ta trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Cả 5 quan điểm đều nêu vấn 5 đề trọng tâm là làm thế nào để đảm bảo công bằng trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân [17].
Việc vận dụng và phát triển quan điểm này đã được thể hiện qua các chính sách như: Thu và miễn giảm viện phí, thực hiện bảo hiểm y tế (BHYT), đa dạng hóa các loại hình bệnh viện… Quan điểm công bằng trong KCB cũng được thể hiện bởi mức độ chăm sóc và điều trị phải căn cứ vào tình trạng bệnh lý và hoàn cảnh bị thiệt thòi hoặc khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế (DVYT). Công bằng phải tính đến nhu cầu khám chữa bệnh khi mắc bệnh và yêu cầu tức sức mua hay khả năng chi trả của người bệnh. Nhu cầu là sự cần thiết được KCB gắn với chuyên môn. Khả năng chi trả dịch vụ KCB gắn với thị trường cung và cầu.
Cả người giàu và người nghèo đều có nhu cầu KCB, nhưng mức độ tiếp cận, sử dụng và khả năng chi trả khác nhau. Công bằng trong KCB phải gắn với việc thỏa mãn nhu cầu KCB cho mọi người [38]. Người cao tuổi Theo quy định của Liên Hiệp Quốc từ năm 1970: Người từ 60 tuổi trở lên được gọi là người cao tuổi (NCT) [60]. Tại nước ta, cho đến khi Pháp lệnh người cao tuổi (NCT) được ban hành vào tháng 4 năm 2000, chúng ta đã có quy định 60 tuổi trở lên là người già.
Sau nhiều lần điều hành, đến cuối thập kỷ 80, khái niệm NCT được dùng thay cho người già. Tuy hai khái niệm này không khác nhau về khoa học, song về mặt tâm lý, cụm từ NCT mang ý nghĩa tích cực hơn [56]. Dịch vụ y tế Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO): Dịch vụ y tế bao gồm tất cả các dịch vụ về chẩn đoán, điều trị bệnh tật và các hoạt động chăm sóc, phục hồi sức khỏe. Chúng bao gồm các dịch vụ y tế cá nhân và dịch vụ y tế công cộng.
Dịch vụ y tế là dịch vụ chỉ toàn bộ hoạt động chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, cho con người mà kết quả tạo ra là các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất cụ thể, nhằm thỏa mãn kịp thời và thuận tiện có hiệu quả hơn các nhu cầu ngày càng tăng của cộng đồng và con người trong chăm sóc sức khỏe [61]. Các văn bản chính sách quy định về dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà: 6 2. Hướng dẫn thực hiện chăm sóc sức khỏe người cao tuổi: Tại điều 3 Nội dung chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng – Chương II về chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại cộng đồng và quản lý các bệnh mãn tính, thông tư số 35/2011/TT-BYT ghi rõ khuyến khích mô hình chăm sóc sức khỏe tại nhà [6]: 1. Tuyên truyền phổ biến kiến thức về rèn luyện thân thể, tăng cường sức khỏe và phòng bệnh, đặc biệt là các bệnh thường gặp ở người cao tuổi để người cao tuổi tự phòng bệnh.
Tùy theo điều kiện của từng địa phương để lựa chọn hình thức tuyên truyền phù hợp như tài liệu, sách, tờ rơi, áp phích, băng rôn, khẩu hiệu, hội thảo, nói chuyện và các phương tiện truyền thông tin đại chúng. Hướng dẫn người cao tuổi các kỹ năng phòng bệnh, chữa bệnh và tự chăm sóc sức khỏe. Tổ chức khám sức khỏe để lập hồ sơ theo dõi sức khỏe cho người cao tuổi. Khuyến khích tổ chức mạng lưới bác sĩ gia đình và dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà cho người cao tuổi.
Khám sức khỏe định kỳ người cao tuổi được thực hiện ít nhất một lần một năm (01 lần/năm). Khám bệnh, chữa bệnh cho người cao tuổi tại trạm y tế xã, phường, thị trấn và tại nơi cư trú của người cao tuổi. Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng người cao tuổi bị tàn tật để phòng ngừa và phục hồi các di chứng do chấn thương, tai nạn hoặc do các bệnh tai biến mạch máu não, bệnh mạn tính, bệnh nghề nghiệp và các bệnh khác 2. Hướng dẫn thí điểm về mô hình bác sỹ gia đình và phòng khám bác sỹ gia đình: 2.
Điều 4 Thông tư số 16/2014/TT-BYT quy định về Chức năng, nhiệm vụ chính của bác sĩ gia đình là khám bệnh, chữa bệnh, quản lý, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe toàn diện cho cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng[9] 2. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của phòng khám bác sỹ gia đình trong hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh 7 Sàng lọc, cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh và chuyển người bệnh đến các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác theo quy định về chuyển tuyến khám bệnh chữa bệnh và tiếp nhận người bệnh để tiếp tục quản lý, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe; Phối hợp chặt chẽ với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong hệ thống khám bệnh, chữa bệnh để bảo đảm hoạt động quản lý sức khỏe, khám bệnh chữa bệnh cho cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng; Liên hệ để chuyển người bệnh thuộc phạm vi quản lý sức khỏe của phòng khám bác sĩ gia đình đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp để khám bệnh chữa bệnh [9]. Riêng Phòng khám bác sỹ gia đình được thực hiện việc chăm sóc sức khỏe và khám bệnh, chữa bệnh tại nhà người bệnh [7]. Quy định về cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà: Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 của Bộ Y tế về thủ tục cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tại nhà đối với Lĩnh vực hành nghề y tư nhân yêu cầu về thiết bị y tế phải có đầy đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở dịch vụ đăng ký.
Về nhân sự, người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà phải là người tốt nghiệp trung cấp y trở lên có chứng chỉ hành nghề và có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 45 tháng [7]. Phạm vi hoạt động chuyên môn: a. Chăm sóc sức khỏe tại nhà theo đơn của bác sỹ b. Không truyền dịch; không khám bệnh, chữa bệnh và kê đơn thuốc.
Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi trên thế giới và Việt Nam: 1. Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi trên thế giới: Nhận thức được tầm quan trọng và những thách thức của vấn đề già hóa dân số, năm 1982, lần đầu tiên Liên Hợp Quốc triệu tập Đại hội thế giới về người cao tuổi họp tại Vienna - Áo. Đại hội đưa ra “Chương trình hành động quốc tế về người cao tuổi” trong 50 năm. Vấn đề về NCT đã được đưa vào chương trình nghị sự toàn cầu, trong đó tập trung chủ yếu vào tình trạng già hóa dân số ở 8 các nước phát triển dưới góc độ phúc lợi xã hội.
Chương trình hành động đã thống nhất đưa ra 50 điều khuyến cáo, bao quát 6 mục tiêu lớn về người cao tuổi trong đó mục tiêu về sức khỏe và dinh dưỡng của NCT được đề cập đầu tiên. Văn kiện này đã định hướng cho tư duy và hành động về NCT với nhiều chính sách và sáng kiến quan trọng [56]. Ngày 14/12/1990, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc lấy ngày 01/10 hàng năm là Ngày quốc tế NCT (Nghị quyết số 45/106). Ngày quốc tế NCT được tổ chức để nâng cao nhận thức về các vấn đề ảnh hưởng đến NCT.
Đây cũng là ngày để đánh giá cao những đóng góp mà NCT đã làm cho xã hội. Trên cơ sở già soát những kết quả đạt được, Liên Hợp Quốc tiếp tục thông qua “Nguyên tắc đạo lý của Liên Hợp Quốc đối với người cao tuổi” (Nghị quyết số 45/91) bao gồm 5 nguyên tắc về đảm bảo các quyền của NCT trong đó quyền được chăm sóc khi cần thiết cũng được đề cập đến. Năm 1992, Liên Hợp Quốc tiếp tục thông qua Nghị quyết số 4/86 nêu lên những mục tiêu toàn cầu về NCT trong giai đoạn 1997-2001. Tuyên ngôn Brasillia của TCYTTG (năm 1996) cũng chỉ rõ CSSK cho NCT là công việc của mọi cấp, mọi ngành “Tuổi già khỏe mạnh là nguồn lực của gia đình, của cộng đồng và toàn xã hội”.