Chương 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lý luận về nhận thức Do yêu cầu của lao động, của cuộc sống, con người thường xuyên tiếp xúc với các sự vật hiện tượng xung quanh, qua đó con người nhận thức được các nét cơ bản của sự vật hiện tượng. Cứ như vậy, nhận thức của con người ngày càng được mở rộng. Theo từ điển Triết học: Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện thực ở trong tư duy của con người, được quyết định bởi quy luật phát triển xã hội và gắn liền cũng như không thể tách rời khỏi thực tiện, nó phải là mục đích của thực tiễn, phải hướng tới chân lý khách quan.
Hiểu nhận thức là một quy trình, nghĩa là nhờ có quy trình đó mà cảm xúc của con người không mất đi, nó được chuyển hóa vào đầu óc con người, được con người lưu giữ và mã hóa, … Theo Từ điển Giáo dục học: Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và tái tạo hiện thực vào tư duy của con người [7]. Như vậy, nhận thức được hiểu là quá trình, là kết quả phản ánh, là quá trình con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó (nhận biết là mức độ thấp, hiểu biết là mức độ cao hơn, hiểu được các thuộc tính bản chất). Nhà Tâm lý học người Đức cho rằng: “Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong ý thức của con người, nhận thức bao gồm: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau và cơ sở, mục đích và tiêu chuẩn của nhận thức là thực tiễn xã hội.” Luan van 4 Như vậy, nhận thức là hành động bằng trí tuệ, để hiểu biết các sự vật hiện tượng. Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích các khái niệm khác nhau về nhận thức, trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng định nghĩa của nhà Tâm lý học người Đức làm cơ sở để khảo sát những nội dung liên quan.
Điều dưỡng và nghề điều dưỡng 1. Điều dưỡng Tổ chức y tế thế giới đánh giá dich vụ chăm sóc sức khỏe do điều dưỡng- hộ sinh cung cấp là một trong những trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế nên đã đưa ra nhiều nghị quyết về củng cố và tăng cường dịch vụ điều dưỡng- hộ sinh toàn cầu phát triển nguồn lực điều dưỡng có trình độ được coi là chiến lược quan trọng để tăng cường sự tiếp cận của người nghèo đối với các dịch vụ y tế, cũng như đảm bảo công bằng trong y tế. Y học càng phát triển đòi hỏi nâng cao kiến thức và trình độ chuyên nghiệp của điều dưỡng. Việc đào tạo điều dưỡng ở bậc đại học và sau đại đã tạo ra sự thay đổi về mối quan hệ giữa người thầy thuốc và người điều dưỡng, một thành viên của nhóm chăm sóc thay vì chỉ là người thực hiện y lệnh.
Bác sĩ và điều dưỡng là hai nghề có định hướng khác nhau: bác sĩ làm nhiệm vụ chẩn đoán và điều trị; điều dưỡng làm nhiệm vụ chăm sóc và đáp ứng các nhu cầu cơ bản cho người bệnh về thể chất, tinh thần. Từ đó, ta có thể thấy, điều dưỡng là nghề chuyên nghiệp, một ngành khoa học về chăm sóc. Ngày nay, do sự phát triển của y học đòi hỏi tính chuyên môn hóa ngày càng cao đã làm cho điều dưỡng trở thành một ngành đa khoa có nhiều chuyên khoa như: nhi, ngoại khoa, nội khoa, cộng đồng, … Do vị trí xã hội, trình độ và sự phát triển của ngành điểu dưỡng ở các nước rất khác nhau, cho đến nay chưa có một sự thống nhất về định nghĩa Luan van 5 chung cho ngành điều dưỡng. Dưới đây là một số định nghĩa đã được đa số các nước công nhận: Theo Florent Nightigale (1860): Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ sự hồi phục của họ [9].
Định nghĩa của Florent Nightigale phản ánh mối quan tâm của thời đại mà bà ta đang sống. Bà đặt vai trò trọng tâm của người điều dưỡng là giải quyết các yếu tố môi trường xung quanh nơi người bệnh để người bệnh được hồi phục một cách tự nhiên. Theo Virginia Handerson (1960): “Chức năng duy nhất của người điều dưỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao hoặc hồi phục sức khỏe của người bệnh hoăc người khỏe, hoặc cho cái chết được thanh thản mà mỗi cá thể có thể có thể tự thực hiện nếu học có sức khỏe, ý chí và kiến thức. Giúp đỡ các cá thể sao cho họ đạt được sự độc lập càng sớm càng tốt” [10].
Ta có thể thấy chức năng nghề nghiệp của người điều dưỡng mà Handerson hướng tới là chăm sóc và hỗ trợ người bệnh thực hiện các hoạt động hàng ngày. Theo hiệp hội điều dưỡng Mỹ, năm 1965 họ cho rằng Điều dưỡng là một nghề hỗ trợ cung cấp các dịch vụ chăm sóc đóng góp vào việc hồi phục và nâng cao sức khỏe [9]. Năm 1980, khái niệm này đã được sửa đổi để phản ánh rõ bản chất nghề nghiệp, các khía cạnh luật pháp về phạm vi thực hành của người điều dưỡng và thể hiện xu hướng của ngành điều dưỡng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe: Điều dưỡng là chẩn đoán và điều trị những phản ứng của con người đối với bệnh hiện tại hoặc bệnh có tiềm năng xảy ra [9]. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng định nghĩa trên thiên về kỹ thuật và giảm đi thiên chức của nghề đó là chăm sóc.
Tại nước ta, Hội Điều dưỡng Việt Nam được thành lập tại Quyết định số 375/CT ngày 26/10/1990 [11][8]. Định nghĩa này không còn phù hợp với tình hình phát triển xã hội, cần có định nghĩa mới về điều dưỡng và nghề điều Luan van 6 dưỡng trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe hiện nay. Do đó theo từ điển Bách khoa toàn thư, Điều dưỡng được định nghĩa là: “là một nghề nghiệp trong hệ thống y tế nhằm bảo vệ, nâng cao tối ưu về sức khỏe và các khả năng, dự phòng bệnh và sang thương, xoa dịu nỗi đau qua chẩn đoán và điều trị đáp ứng con người, tăng cường chăm sóc cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Nghề điều dưỡng Điều dưỡng là một nghề dịch vụ sức khỏe cộng đồng (Public health service).
Tổ chức y tế thế giới đánh giá dịch vụ chăm sóc sức khỏe do điều dưỡng- hộ sinh cung cấp là một trụ cột của dịch vụ y tế nên đã đưa ra nhiều nghị quyết về củng cố tăng cường dịch vụ điều dưỡng- hộ sinh toàn cầu phát triển nguồn nhân lực có trình độ được coi là một chiến lược quan trọng để tăng cường sự tiếp cận của người nghèo với các dịch vụ y tế, cũng như đảm bảo công bằng xã hội trong y tế. Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo các nước xây dựng và củng cố ngành điều dưỡng theo các định hướng cở bản sau đây [9]: Điều dưỡng là một nghề chuyên nghiệp (Nursing profession): Đối tượng phục vụ của người điều dưỡng là con người. Đối tượng này đòi hỏi người điều dưỡng phải nâng cao kiến thức và trình độ chuyên nghiệp cho phù hợp với sự phát triển của y học. Việc nâng cao trình độ chuyên nghiệp của điều dưỡng ở bậc đại học và sau đại học đã tạo ra sự thay đổi về mối quan hệ giữa người thầy thuốc và người điều dưỡng (doctor-Nurse relationship), người điều dưỡng trở thành người cộng sự của thầy thuốc, một thành viên của nhóm chăm sóc thay vì chỉ là người thực hiện y lệnh.
Nghề điều dưỡng với bản chất nghề nghiệp là chăm sóc, nuôi dưỡng, đáp ứng nhu cầu cơ bản cho người bệnh, giúp họ nhanh chóng trở về trạng thái bình thường, khỏe mạnh Điều dưỡng là một khoa học về chăm sóc người bệnh (Nursing is a caring science): Người điều dưỡng không phải chỉ bác sĩ thu nhỏ về phương Luan van 7 diện kiến thức kĩ năng, nói một cách khác kiến thức và kĩ năng của thầy thuốc sẽ vừa thừa vừa thiếu đối với điều dưỡng. Do bởi hai nghề có định hướng khác nhau trong vai trò nghiệp vụ. Vai trò chính của bác sĩ là chẩn đoán và điều trị, vai trò chính của người điều dưỡng là chăm sóc và đáp ứng những nhu cầu cơ bản về thể chất và tinh thần. Do đó, đào tạo một đội ngũ giảng viên là điều dưỡng để giảng dạy điều dưỡng ở tương lai là một trong những chính sách thiết yếu để phát triển nghề điều dưỡng ở Việt Nam.
Người làm công tác điều dưỡng phải trải qua một quá trình đào tạo thích đáng về nghề nghiệp, trong các trường đào tạo tin cậy để được trang bị các kiến thức khoa học y học và điều dưỡng. Điều dưỡng là một ngành học (Nursinh is a discipline): Do đặc thù của nghề điều dưỡng là làm các công việc chăm sóc từ đơn giản nhất đến những công việc phức tạp. Từ việc thay drap trải giường đến các công việc nghiên cứu, quản lý, đào tạo và trở thành những chuyên gia điều dưỡng lâm sàng có trình độ (Nursing expert) nên các nước đã đào tạo điều dưỡng ở các trình độ từ sơ học, trung học, đại học và đến sau đại học để đáp ứng nhu cầu hành nghề. Ngày nay, điều dưỡng không chỉ là một ngành học có nhiều chuyên khoa như: điều dưỡng nhi, điều dưỡng phòng mổ, điều dưỡng cộng đồng, điều dưỡng tâm thần và nhiều nước còn áp dụng đào tạo hộ sinh là một chuyên khoa của điều dưỡng.
Phạm vi hành nghề của điều dưỡng được pháp luật quy định, bao gồm luật về phạm vi hành nghề (Scope of Nursing pracrices) và đạo đức nghề điều dưỡng (Nursing ethics). Những quy định này là rất cần thiết để người điều dưỡng thực hiện đúng nghĩa vụ nghề nghiệp của mình đối với xã hội, đồng thời người điều dưỡng cũng được pháp luật bảo vệ trong quá trình hành nghề. Chức năng của điều dưỡng Theo tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo điều dưỡng có hai chức năng: chức năng chủ động và chức năng phối hợp. Chức năng chủ động (chức năng độc lập) Chức năng chủ động của người điều dưỡng bao gồm những chức năng nhiệm vụ chăm sóc cơ bản thuộc phạm vi kiến thức mà người điều dưỡng đã được học và họ có thể thực hiện được một cách chủ động.
Thực hiện chức năng chủ động là nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản cho người bệnh. Các nhu cầu cơ bản đó bao gồm các nhu cầu cơ bản của người bệnh về: hô hấp, ăn uống, bài tiết, vận động, duy trì thân nhiệt, vệ sinh cá nhân, thay mặc quần áo, ngủ và nghỉ, an toàn, giao tiếp, tín ngưỡng, lao động, học tập hỗ trợ tinh thần.