Chương 1 TỔNG QUAN 1.Tổng quan về bệnh viện 1. Khái niệm về bệnh viện: Bệnh viện là một cơ sở y tế trong khu vực dân cư bao gồm giường bệnh, đội ngũ cán bộ có trình độ kỹ thuật được tổ chức thành các khoa, phòng với trang thiết bị và cơ sở hạ tầng thích hợp để thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng cung cấp các dịch vụ y tế cho người bệnh. Theo Tổ chức Y tế thế giới "Bệnh viện là một bộ phận không thể tách rời của tổ chức xã hội y tế, chức năng của nó là chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân dân, cả phòng bệnh và chữa bệnh, dịch vụ ngoại trú của bệnh viện phải vươn tới gia đình và môi trường cư trú. Bệnh viện còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu khoa học" [9].
Hơn thế nữa theo các tài liệu của WHO thì bệnh viện còn là một tổ chức rất phức tạp. Bỡi lẽ, những tiến bộ trên nhiều mặt trong xã hội đã khiến nhiều người dân ý thức rõ hơn về quyền lợi của mình. Họ ngày càng đòi hỏi cao hơn với hệ thống bệnh viện, họ muốn được cung cấp các dịch vụ y tế không chỉ trong khuôn khổ bệnh viện mà còn ở ngay tại gia đình. Mặc khác ngày càng có nhiều loại bệnh lây lan do ô nhiễm môi trường và vì thế trách nhiệm chức năng của bệnh viện ngày càng nhiều hơn, tính phức tạp do đó tăng lên [24].
Trong thời gian gần đây, bệnh viện được coi là một loại tổ chức xã hội chủ chốt trong cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và đem lại nhiều lợi ích cho người bệnh và toàn xã hội. Đó là nơi chẩn đoán, chữa trị bệnh tật cũng như là nơi người ốm dưỡng bệnh và phục hồi sức khỏe. Vì thế việc tổ chức và quản lý bệnh viện phải có sự hỗ trợ của các nhân viên giỏi, sao cho công tác quản lý ấy thật sự hiệu quả để người bệnh có thể tiếp cận các dịch vụ y tế kịp thời. Muốn nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại các bệnh viện phải dựa vào đội ngũ quản lý giỏi [24].
Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện Bệnh viện có 7 chức năng nhiệm vụ bao gồm: khám chữa bệnh, đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, quản lý kinh tế y tế, chỉ đạo tuyến trước, hợp tác quốc tế, 5 phòng bệnh. Mô hình tổ chức mạng lưới khám chữa bệnh ảnh hưởng nhiều tới tính công bằng, hiệu quả của hệ thống y tế. Để làm tròn những nhiệm vụ thiêng liêng và cao cả ấy, bệnh viện không những hoạt động thuần túy chuyên môn về y học mà còn phải nâng lên một tầm cao hơn, đó chính là thiết lập được cho mình một hệ thống quản lý để thực thi có hiệu quả các hoạt động đã nêu trên nhằm cung cấp cho người bệnh những dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt nhất. Vấn đề chất lượng dịch vụ y tế vẫn chưa có lời giải thỏa đáng, mặc dù công tác nâng cao chất lượng luôn luôn được trú trọng và nhiều biện pháp cụ thể đã được thực hiện, nhưng vẫn chưa có giải pháp mang tính toàn diện và đồng bộ.
Hiện nay dù có nhiều qui chế, qui định liên quan đến những khía cạnh khác nhau của quản lý chất lượng dịch vụ y tế, nhưng chưa có giải pháp toàn diện về quản lý chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh để thực hiện mục tiêu đảm bảo chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh ngày càng cao. Tuy nhiên, một hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ y tế với các chuẩn mực kỹ thuật được ban hành với các cơ chế cho việc tuân thủ các chuẩn mực đó cần được tiếp tục thể chế hóa một cách đầy đủ và đồng bộ [7]. Tổng quan về điều dưỡng 1. Lịch sử ngành điều dưỡng 1.
Lịch sử ngành điều dưỡng thế giới Nǎm 60, bà Phoebe (Hy Lạp) đã đến từng gia đình có người ốm đau để chǎm sóc. Bà được ngưỡng mộ và suy tôn là người nữ điều dưỡng tại gia đầu tiên của thế giới. Vào thế kỷ thứ IV, bà Fabiola (La Mã) đã tự nguyện biến cǎn nhà sang trọng của mình thành bệnh viện, đón những người nghèo khổ đau ốm về để tự bà chǎm sóc nuôi dưỡng. Đến thế kỷ thứ 16, chế độ nhà tù ở Anh và châu Âu bị bãi bỏ, những người phụ nữ phạm tội bị giam giữ được tuyển chọn làm điều dưỡng, thay vì thực hiện án tù.
Điều này tạo ra quan niệm và thái độ xấu của xã hội đối với điều dưỡng [17]. Giữa thế kỷ thứ 18 đầu thế kỷ thứ 19, một phụ nữ người Anh đã được thế giới tôn kính và suy tôn là người sáng lập ra ngành điều dưỡng. Đó là Florence 6 Nightingale (1820-1910). Bà đã đưa ra lý thuyết về khoa học vệ sinh trong các cơ sở y tế và sau 2 nǎm bà đã làm giảm tỷ lệ chết do nhiễm khuẩn từ 42% xuống còn 2%.
Florence đã lập ra hội đồng quản lý ngân sách 50.000 bảng Anh để thành lập trường đào tạo điều dưỡng đầu tiên ở nước Anh và cũng là trường điều dưỡng đầu tiên trên thế giới vào nǎm 1860. Trường điều dưỡng Nightingale cùng với chương trình đào tạo một năm đã đặt nền tảng cho hệ thống đào tạo điều dưỡng không chỉ ở nước Anh mà còn ở nhiều nước trên thế giới [17]. Hiện nay ngành điều dưỡng của thế giới đã được xếp là một ngành riêng biệt, ngang hàng với các ngành nghề khác. Có nhiều trình độ điều dưỡng khác nhau: trung học, đại học, trên đại học.
Nhiều điều dưỡng đã có bằng thạc sĩ, tiến sĩ, được phong hàm giáo sư và có nhiều công trình khoa học được đánh giá cao [17].Lịch sử ngành điều dưỡng Việt Nam Thời kỳ Pháp thuộc, trước nǎm 1900, chế độ học việc đã được ban hành, cho những người muốn làm y tá (khán hộ) ở bệnh viện. Vào nǎm 1901, lớp nam y tá đầu tiên được mở tại bệnh viện Chợ Quán nơi điều trị bệnh tâm thần và phong và đến nǎm 1910 lớp học rời về bệnh viện Chợ Rẫy để đào tạo y tá đa khoa. Nǎm 1924, Hội y tá ái hữu và nữ hộ sinh Đông Dương thành lập, người sáng lập ra là cụ Lâm Quang Thiện nguyên Giám đốc bệnh viện Chợ Quán. Và nǎm 1937, Hội chữ thập đỏ Pháp tuyển sinh lớp nữ y tá đầu tiên ở Việt Nam.
Sau Cách mạng Tháng 8 nǎm 1945, lớp y tá đầu tiên được đào tạo 6 tháng được tổ chức tại quân khu X (Việt Bắc) [17]. Sau hiệp định Giơ ne vơ (1954), đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc. Sự phát triển ngành điều dưỡng ở hai miền có sự khác nhau. Ở miền Nam: nǎm 1956 trường điều dưỡng riêng đào tạo điều dưỡng 3 nǎm đã được thành lập.
Từ những nǎm 1960 đã có bộ phận điều dưỡng tại Bộ Y tế và tới nǎm 1970 Hội điều dưỡng Việt Nam được thành lập. Ở miền Bắc: nǎm 1954, Bộ Y tế đã xây dựng chương trình đào tạo y tế sơ cấp và nǎm 1968, xây dựng tiếp chương trình đào tạo y tá trung cấp, lấy học sinh tốt nghiệp cấp II đào tạo y tá 2 nǎm 6 tháng [17]. Nǎm 1975, kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đất nước được thống nhất, Bộ Y tế đã chỉ đạo công tác chăm sóc và điều trị bệnh nhân ở cả 2 miền. Từ đó, nghề điều dưỡng bắt đầu có tiếng nói chung giữa hai miền Nam-Bắc.
Nǎm 1982 Bộ Y tế ban 7 hành chức danh y tá trưởng bệnh viện và y tá trưởng khoa và đến nǎm 1985, một số bệnh viện đã thành lập phòng điều dưỡng, tổ điều dưỡng tách ra khỏi phòng Y vụ. Ngày 14 tháng 7 nǎm 1990, Bộ Y tế ban hành quyết định số 5701990/QĐ-BYT thành lập phòng điều dưỡng trong các bệnh viện có trên 150 giường bệnh. Ngày 14 tháng 3 nǎm 1992 Bộ trưởng Bộ Y tế ra quyết định 356/BYT-QĐ thành lập phòng Y tá của Bộ đặt trong Vụ điều trị nay là Cục Quản lý khám, chữa bệnh. Ngày 10 tháng 6 nǎm 1993, Bộ Y tế ra quyết định số 526/1993/QĐ-BYT quy định trách nhiệm của y tá trong chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện [17].
Đến năm 1986, khóa đào tạo đại học điều dưỡng đầu tiên đã được Bộ Y tế tổ chức tại Đại học Y khoa Hà Nội và Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh. Đây là mốc lịch sử quan trọng trong lĩnh vực đào tạo điều dưỡng ở nước ta. Ngày 26 tháng 10 nǎm 1990, Hội y tá - điều dưỡng Việt Nam được thành lập tại hội trường Ba Đình lịch sử, đánh dấu bước trưởng thành của nghề điều dưỡng tại Việt Nam [17]. Khái niệm về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện Trong khoản XX điều 2, Thông tư 07/2011/TT-BYT của Bộ Y tế đã ghi rõ: “Chăm sóc người bệnh trong bệnh viện bao gồm sự hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi người bệnh nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý; hỗ trợ điều trị và tránh nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho người bệnh” [25].
Nguyên tắc chăm sóc người bệnh trong bệnh viện Nguyên tắc CSNB trong bệnh viện theo quy định của Bộ Y tế được thể hiện trong điều 3 của thông tư 07/2011/TT-BYT, gồm ba nguyên tắc cơ bản sau đây [25]: - Người bệnh là trung tâm của công tác chăm sóc nên phải được chăm sóc toàn diện, liên tục, đảm bảo hài lòng, chất lượng và an toàn. - Chăm sóc, theo dõi người bệnh là nhiệm vụ của bệnh viện, các hoạt động chăm sóc điều dưỡng, theo dõi do điều dưỡng viên, hộ sinh viên thực hiện và chịu trách nhiệm. - Can thiệp điều dưỡng phải dựa trên cơ sở các yêu cầu chuyên môn và sự đánh giá nhu cầu của mỗi người bệnh để chăm sóc phục vụ. Dựa vào những nguyên tắc đã quy định trên, các bệnh viện tiến hành lập kế 8 hoạch, tổ chức công tác chăm sóc người bệnh tại đơn vị mình.
Đồng thời làm căn cứ để tiến hành xây đựng các tiêu chuẩn để đánh giá công tác chăm sóc người bệnh tại bệnh viện. Chức năng nhiệm vụ của người điều dưỡng chăm sóc Người điều dưỡng chăm sóc là người trực tiếp làm công tác chăm sóc trên người bệnh trong bệnh viện. Chất lượng chăm sóc người bệnh phụ thuộc rất nhiều vào việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của họ. Quy chế bệnh viện do Bộ Y tế ban hành năm 2001 đã qui định chức năng nhiệm vụ của điều dưỡng chăm sóc có 11 chức năng nhiệm vụ cơ bản [7].