CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về điều dưỡng 1. Định nghĩa, chức năng, nhiệm vụ 1. Định nghĩa về điều dưỡng [18] Hội Điều dưỡng Hoa Kỳ năm 1965 đã đưa ra định nghĩa: “Điều dưỡng là một nghề hỗ trợ cung cấp các dịch vụ chăm sóc đóng góp vào việc hồi phục và nâng cao sức khỏe”.
Đến năm 1980, định nghĩa về điều dưỡng của Hoa Kỳ đã được sửa đổi như sau: Điều dưỡng là chẩn đoán (diagnosis) và điều trị (treatment) những phản ứng của cơ thể đối với bệnh hiện tại hoặc bệnh có thể xảy ra (nguy cơ tiềm tàng)”. Như vậy định nghĩa này đã phản ánh rõ bản chất nghề nghiệp, các khía cạnh luật pháp về phạm vi thực hành của người điều dưỡng và thể hiện xu hướng của ngành điều dưỡng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Định nghĩa trên là cơ sở để đưa ra quy trình điều dưỡng mà hiện nay được áp dụng tại rất nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên cũng có một số ý kiến cho rằng, định nghĩa trên thiên về kỹ thuật và giảm đi thiên chức của nghề đó là chăm sóc.
Ngày nay, người điều dưỡng đã được công nhận là một nghề nghiệp độc lập, cùng với các bác sĩ, dược sĩ, kỹ thuật viên và các thành phần trong hệ thống y tế để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội, người làm điều dưỡng gọi là điều dưỡng viên. Định nghĩa về chăm sóc điều dưỡng Chăm sóc điều dưỡng bao gồm tự chăm sóc hoặc phối hợp của các cá nhân thuộc mọi lứa tuổi, gia đình, nhóm cũng như cộng đồng, có bệnh hoặc khỏe và ở mọi địa điểm (trong đó có cơ sở y tế). Chức năng, nhiệm vụ Chức năng [18] Chức năng chủ động (Chức năng độc lập) 5 Điều dưỡng cần có sự độc lập trong việc chăm sóc, theo dõi, làm thủ tục, hướng dẫn bệnh nhân từ lúc nhập viện cho đến khi xuất viện. Trong khoảng thời gian này điều dưỡng phải lập kế hoạch cụ thể để chăm sóc bệnh nhân.
Chức năng phối hợp Ngoài làm việc độc lập, người điều dưỡng còn phải phối hợp với các đồng nghiệp những bộ phận khác trong quá trình điều trị để thực hiện một số kỹ thuật chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân, phản ánh các diễn biến của bệnh nhân cho bác sĩ để phối hợp xử trí kịp thời khi bệnh nhân chuyển bệnh nặng. Chức năng phụ thuộc Tuy điều dưỡng viên cần phải độc lập nhưng trong quá trình điều trị của bệnh nhân, điều dưỡng cần phải phụ thuộc vào bác sĩ trong một số việc như: cho bệnh nhân dùng thuốc, thực hiện một số thủ thuật theo yêu cầu điều trị, phụ giúp bác sĩ thực hiện một số thủ thuật điều trị, lấy bệnh phẩm để xét nghiệm. Điều dưỡng có trình độ càng cao thì chức năng phụ thuộc càng giảm và chức năng chủ động càng được phát huy. Nhiệm vụ Điều dưỡng có nhiệm vụ CSNB toàn diện (CSNBTD), bắt đầu từ khi nhập viện, nằm viện tới lúc xuất viện.
Họ có nhiệm vụ phải nhận định tình trạng NB, đánh giá về sự đáp ứng của họ đối với bệnh tật để từ đó chẩn đoán điều dưỡng và vận dụng những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và các tiêu chuẩn điều dưỡng để lập kế hoạch chăm sóc, thực hiện kế hoạch chăm sóc, đánh giá toàn trạng và ghi chép diễn biến trường hợp bệnh nặng và cấp cứu để điều chỉnh kịp thời. Bên cạnh đó điều dưỡng còn có nhiệm vụ phải phối hợp với bác sĩ trong thực hiện kế hoạch CSNBTD như thực hiện, theo dõi giám sát điều dưỡng cấp dưới trong thực hiện y lệnh, tư vấn, giáo dục sức khoẻ và đào tạo cho học sinh, sinh viên, học viên, chỉ đạo tuyến, nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, điều dưỡng còn có nhiệm vụ quản lý tài sản, vật tư, trang thiết bị, môi trường làm việc, phát triển nghề nghiệp và phải hành nghề theo y đức và pháp luật [18]. 6 Ngoài ra, Thông tư số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07/10/2015 cũng quy định rất rõ tiêu chuẩn, nhiệm vụ của từng chức danh nghề nghiệp điều dưỡng tương ứng với trình độ đào tạo [3].
Bối cảnh chung về chuyên ngành điều dưỡng Năm 2012, cả nước có 75.891 điều dưỡng, trong đó trình độ trên đại học chỉ có 0,1%, đại học 5.2%, cao đẳng 4,6%, trung cấp 89,2% và nhân lực điều dưỡng chiếm 45% nhân lực chuyên môn của ngành Y tế. Ngày nay, ngành điều dưỡng đã phát triển trên các lĩnh vực: - Điều dưỡng đã trở thành một ngành học với nhiều cấp trình độ, từ trung cấp lên cao đẳng, đại học điều dưỡng và thạc sĩ điều dưỡng. Hệ thống đào tạo điều dưỡng đến nay đã có nhiều cơ sở đào tạo, trong đó có các cơ sở đào tạo cao đẳng, đại học và sau đại học. - Các chính sách về điều dưỡng và các chuẩn mực hành nghề điều dưỡng đang được bổ sung hoàn thiện: Bộ y tế đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn quốc gia về thực hành chăm sóc điều dưỡng; Nhà nước đã có quyết định công nhận danh hiệu Thầy thuốc ưu tú, Thầy thuốc nhân dân cho điều dưỡng, hộ sinh.
Với những chính sách hiện hành đã mở ra tương lai cho ngành điều dưỡng phát triển và người điều dưỡng có thể yên tâm phấn đấu và tiến bộ trong nghề nghiệp. - Chất lượng chăm sóc người bệnh đã có nhiều chuyển biến rõ rệt thông qua việc đổi mới các mô hình phân công chăm sóc, tổ chức chăm sóc người bệnh toàn diện, chuẩn hóa các kỹ thuật điều dưỡng [7]. Năng lực điều dưỡng và các yếu tố liên quan 1. Khái niệm về năng lực và năng lực điều dưỡng Năng lực: bao gồm kiến thức, kỹ năng, hành vi và động cơ tác động đến khả năng thực hiện thành công công việc của từng cá nhân đối với các tiêu chuẩn mong đợi.
Năng lực cũng là đặc tính cơ bản của con người giúp người này có thể thực hiện tốt công việc, vai trò hay tình huống [34]. 7 Năng lực điều dưỡng: Theo Hội đồng điều dưỡng thế giới, năng lực của điều dưỡng là khả năng kết hợp có hiệu quả giữa kiến thức, kỹ năng trong việc thực hiện công tác CSNB. Năng lực điều dưỡng có phạm vi rộng, việc thực hiện vai trò điều dưỡng với các tiêu chuẩn cần thiết trong thực hiện công tác CSNB, năng lực điều dưỡng bao gồm: - Kiến thức, sự hiểu biết, phán đoán trong thực hiện công việc của điều dưỡng. - Thực hiện kỹ năng, kỹ thuật trong công tác CSNB.
- Các đặc tính cá nhân và thái độ của người điều dưỡng [28]. Các yếu tố liên quan đến năng lực Tất cả các yếu tố tác động đến việc hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, hành vi và động cơ làm việc của cá nhân sẽ ảnh hưởng đến năng lực. Việc phân định rõ và hỗ trợ cải thiện các yếu tố ảnh hưởng là những biện pháp quan trọng để phát triển năng lực cá nhân [34]. Công tác đào tạo, bồi dưỡng là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định đến năng lực.
Bên cạnh đó còn có một số yếu tố quan trọng khác có tác động đến năng lực như: điều kiện làm việc, sự hài lòng với công việc, tạo động lực và khuyến khích, giám sát và đánh giá [4]. Ngoài ra, một số yếu tố liên quan có tác động lớn đến năng lực của NVYT như môi trường làm việc có đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ và thuốc men hay không? Sự đánh giá, giám sát kết quả làm việc dựa trên chức năng nhiệm vụ một cách rõ ràng cũng có tác động đến việc hoàn thành nhiệm vụ, làm việc sáng tạo, có chất lượng và cung cấp dịch vụ y tế có chất lượng. Một yếu tố khác cũng rất quan trọng đó là chế độ động viên khuyến khích cả về tinh thần và vật chất/tài chính [4]. Một số nghiên cứu trên thế giới cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực của điều dưỡng như: điều dưỡng sống ở thành phố lớn có năng lực giao tiếp, tâm lý xã hội tốt hơn điều dưỡng ở nông thôn [33].
Môi trường tích cực của bệnh viện có khả năng cải thiện năng lực năng lực của điều dưỡng, kinh nghiệm cá nhân, sự 8 mong đợi hỗ trợ của cộng đồng và cơ quan quản lý, tham gia đào tạo ngoài giờ và kinh nghiệm chuyển giao công việc là những yếu tố nâng cao năng lực cho điều dưỡng [31]. Sự cần thiết của việc đánh giá năng lực Chương trình đào tạo hiện nay cho một số đối tượng là chưa phù hợp. Chưa có hệ thống kiểm định trong các trường đào tạo y khoa. Chất lượng đào tạo tăng chưa tương xứng với trình độ phát triển của kỹ thuật và nhu cầu chăm sóc của cộng đồng đang tăng nhanh.
Năng lực thực hành của sinh viên sau khi ra trường còn khá hạn chế. Chương trình đào tạo liên tục chưa được chú trọng. Kinh phí đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước cho các cơ sở đào tạo còn rất hạn hẹp. Bên cạnh đó, ngành Y tế còn thiếu định hướng chiến lược và cơ chế điều phối trong hệ thống đào tạo nguồn nhân lực y tế và các đề án để thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực y tế giai đoạn 2012-2020 [6].
Để có cơ sở cho xây dựng kế hoạch phát triển nhân lực, kế hoạch đào tạo, tuyển dụng, sử dụng, luân chuyển, điều động… thì việc đánh giá năng lực là hết sức cần thiết. Trước khi xác định chương trình, nội dung đào tạo, một phần rất quan trọng là xác định năng lực hiện tại của điều dưỡng các khoa phòng và nhu cầu của họ. Đây chính là bước cần thiết để xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo dựa vào khả năng phù hợp, cũng như đánh giá tác động của chương trình đào tạo tại nơi làm việc của điều dưỡng. Chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam - Tiêu chuẩn đánh giá năng lực của điều dưỡng 1.
Chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam Trên cơ sở kết luận thẩm định của Hội đồng chuyên môn, Bộ Y tế ban hành Bộ Chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam (kèm theo Quyết định số: 1352/QĐ-BYT ngày 21 tháng 4 năm 2012 của Bộ Y tế) để các cơ quan y tế áp dụng [7]. Chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam được cấu trúc theo khuôn mẫu chung của điều dưỡng khu vực Châu Á Thái Bình Dương và ASEAN để đáp 9 ứng yêu cầu của khu vực và để dễ so sánh với chuẩn năng lực điều dưỡng các nước.