CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về chăm sóc vết mổ 1.1 Một số khái niệm Vết mổ hay vết thương do phẫu thuật được mô tả giống như là khâu cuối cùng của phẫu thuật với sự khép lại của hai mép vết thương bằng chỉ khâu, keo dán hoặc kẹp phẫu thuật. Toàn bộ quá trình lành vết thương có thể mất vài tháng. Máu và dịch tiết từ vết thương thường rất ít và trong vòng 48 giờ vết thương sẽ hình thành một rào cản tự nhiên chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh Chăm sóc vết mổ là kỹ thuật cơ bản trong chăm sóc người bệnh bao gồm chăm sóc các loại vết thương từ đơn giản đến phức tạp: vết thương sạch, vết thương nhiễm khuẩn, hoại tử, loét ép (loét tỳ), vết thương có chỉ khâu, vết thương có ống dẫn lưu, vết thương ghép da… Quy trình thay băng là quy trình chăm sóc vết mổ giúp làm sạch và ngăn ngừa nhiễm khuẩn vết mổ cho người bệnh.
Trong quá trình thay băng nhân viên y tế theo dõi và đánh giá tình trạng vết thương để đưa ra các kế hoạch chăm sóc vết mổ hiệu quả, phù hợp (30) 1.2 Phân loại vết mổ Vết mổ sạch: là những phẫu thuật không có nhiễm khuẩn, không mở vào đường hô hấp, tiêu hóa, sinh dục và tiết niệu. Các vết thương sạch được đóng kín kỳ đầu hoặc được dẫn lưu kín. Các phẫu thuật sau chấn thương kín. (1) Vết mổ sạch nhiễm: là các phẫu thuật mở vào đường hô hấp, tiêu hoá, sinh dục và tiết niệu trong điều kiện có kiểm soát và không bị ô nhiễm bất thường.
Trong trường hợp đặc biệt, các phẫu thuật đường mật, ruột thừa, âm đạo và hầu họng được xếp vào loại vết mổ sạch nhiễm nếu không thấy có bằng chứng nhiễm khuẩn hoặc không phạm phải lỗi vô khuẩn trong khi mổ. (1) Vết mổ nhiễm: các vết thương hở, chấn thương có kèm vết thương mới hoặc những phẫu thuật để xảy ra lỗi vô khuẩn lớn hoặc phẫu thuật để thoát lượng lớn dịch từ đường tiêu hoá. Những phẫu thuật mở vào đường sinh dục tiết niệu, đường 5 mật có nhiễm khuẩn, phẫu thuật tại những vị trí có nhiễm khuẩn cấp tính nhưng chưa hoá mủ.(1) Vết mổ bẩn hoặc nhiễm khuẩn: các chấn thương cũ kèm theo mô chết, dị vật hoặc ô nhiễm phân. Các phẫu thuật có nhiễm khuẩn rõ hoặc có mủ.3 Vai trò của điều dưỡng trong chăm sóc vết mổ Khi thực hiện chăm sóc vết mổ cho người bệnh người điều dưỡng thường có 2 vai trò chính: thứ nhất là thúc đẩy quá trình liền vết thương, đánh giá vết thương để phân loại, xác định và thu thập số liệu liên quan đến vết thương, sản phẩm chăm sóc được lựa chọn phù hợp, cung cấp dinh dưỡng, nghỉ ngơi, tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh, thứ hai là phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ bằng cách tuân thủ kỹ thuật vô khuẩn, làm sạch vết thương hiệu quả, ngăn ngừa nhiễm khuẩn chéo, vệ sinh người bệnh, giám sát dấu sinh hiệu, quan sát dấu hiệu và biến chứng nhiễm khuẩn.
Nghiên cứu của tác giả Phan Thị Dung tại Bệnh viện Việt Đức qua các năm 2015-2016 cho thấy người điều dưỡng cần có quy trình kỹ thuật thay băng đảm bảo chất lượng và tác giả đã đề xuất đưa ra khung đào tạo chuẩn theo năng lực để nâng cao chất lượng chăm sóc vết thương, trong đó có kỹ thuật thay băng(31) Khi đánh giá chất lượng chăm sóc người bệnh có vết loét ở chân của điều dưỡng bằng cách phỏng vấn thì tác giả Tornvall E và Wihelmsson đã chỉ ra rằng NB họ cần được chăm sóc liên tục và giảm đau khi thực hành thay băng (32). Còn đối với tác giả Huynh T ở Canada cho thấy điều dưỡng có liên quan trực tiếp đến các bước của quy trình thay băng thông qua việc đánh giá người bệnh, xử trí vết thương, đánh giá tình trạng vết mổ và điều trị vết thương cần được thực hiện đúng quy trình chuẩn (33) Ở Việt Nam, điều dưỡng là nhân tố quan trọng trong quá trình chăm sóc và phục hồi sức khỏe cho người bệnh trong đó công tác chăm sóc sau mổ cần người điều dưỡng có kỹ năng thực hành một cách chuyên nghiệp. Để có thể làm tốt hơn công việc chăm sóc sức khỏe người bệnh thì người điều dưỡng cần phải có kỹ năng ra quyết định, tự tin, không ngừng học tập để trau dồi năng lực chuyên môn cũng như nghiên cứu cải tiến chất lượng chăm sóc người bệnh cho bản thân và đồng nghiệp 6 1.4 Lợi ích của việc tuân thủ thực hành chăm sóc vết mổ Để có thể làm tốt hơn công việc chăm sóc sức khỏe người bệnh thì người điều dưỡng cần thực hiện tốt quy trình thực hành chăm sóc vết mổ nhằm hạn chế tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ, tạo điều kiện để vết thương mau lành, hạn chế những tổn thất kinh tế mang lại cho người bệnh khi không may bị nhiễm khuẩn vết mổ và qua đó tạo niềm tin cho người bệnh với chăm sóc y tế, người bệnh mau chóng hồi phục và sinh hoạt trong cộng đồng (34). Nhiều nghiên cứu cho thấy việc tuân thủ quy trình thay băng trong chăm sóc vết mổ sẽ giảm đáng kể việc sử dụng nguồn nhân lực và chi phí do không có nhiễm khuẩn xảy ra ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Các nghiên cứu này cho thấy ngoài việc nâng cao việc chẩn đoán, điều trị, sử dụng kháng sinh thì việc quản lý tốt sự tuân thủ thực hành của điều dưỡng đóng vai trò rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng chăm sóc người bệnh (10,30) Nghiên cứu của tác giả Trần Minh Nguyệt khi tìm hiểu việc thực hiện quy trình thay băng thường quy của điều dưỡng khối ngoại tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn, năm 2017 điều dưỡng khi tiến hành chăm sóc vết mổ sẽ kết hợp giữa kiến thức chuyên môn và kiến thức để sử dụng các vật tư, hóa chất phục vụ cho chăm sóc vết mổ như; băng gạc, hóa chất sát khuẩn…để vết mổ mau lành (29) 1.2 Quy trình chăm sóc vết mổ sạch Mục đích - Che chở vết mổ phòng ngừa bội nhiễm - Làm sạch vết mổ, cầm máu nơi vết thương, nâng đỡ các vị trí tổn thương - Cung cấp và duy trì môi trường ẩm cho mô - Thấm hút các dịch tiết Các bước thực hiện (1,22) Chuẩn bị người bệnh Khi có y lệnh về chăm sóc vết mổ, ĐD-HS mang khẩu trang đến kiểm tra số phòng, số giường, họ tên NB, tuổi NB. Sau đó, ĐD-HS báo và giải thích cho người bệnh biết việc mình sắp làm để người bệnh yên tâm và hợp tác trong quá trình thực 7 hành. Sau khi giải thích cho người bệnh, ĐD-HS sẽ tiến hành quan sát và đánh giá vết thương để có thể chuẩn bị dụng cụ phù hợp Chuẩn bị phương tiện, dụng cụ - Dụng cụ vô khuẩn: 1 bộ dụng cụ chăm sóc vết mổ (01 kelly không mấu, 01 kelly có mấu, 2 chén chun, gòn gạc vô khuẩn); Dung dịch sát khuẩn (Povidone Iodine 10%, Cồn 700 , dung dịch NaCl 0.9%) - Dụng cụ sạch: Mâm inox, 01 kelly sạch, băng keo, găng tay sạch, Dung dịch sát khuẩn tay có cồn, Thùng rác, Băng keo, Săng vải kích thước 80cmx 80cm hoặc tấm lót, chậu đựng hóa chất khử khuẩn sơ bộ Các bước tiến hành - Báo và giải thích lại cho NB biết việc sắp làm. - Rửa tay hoặc khử khuẩn tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn - Mang khẩu trang che kín mũi, miệng - Trải sảng vải/tấm lót không thấm nước dưới vùng thay băng.
- Mang găng tay sạch. - Tháo băng bẩn (bằng kềm sạch hoặc găng tay sạch). - Đánh giá tình trạng vết mổ - Tháo bỏ găng tay - Khử khuẩn tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn - Mở bao gói bộ dụng cụ chăm sóc vết mổ vô khuẩn - Sắp xếp dụng cụ thuận tiện cho việc thay băng - Đổ dung dịch rửa và sát khuẩn vết mổ vào chén chun - Khử khuẩn tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn - Chăm sóc vết mổ - Thấm khô và ấn kiểm tra vết mổ xem vết mổ có dịch không - Sát khuẩn vùng da xung quanh vết mổ - Lấy miếng gạc vô khuẩn đặt lên trên vết mổ - Tháo găng tay. - Băng kín mép vết mổ bằng băng dín - Để người bệnh lại tiện nghi.
8 - Thu dọn dụng cụ - Vệ sinh tay 1.3 Thực trạng tuân thủ chăm sóc vết mổ của điều dưỡng – hộ sinh 1.1 Nghiên cứu trên thế giới Trong chăm sóc vết mổ người điều dưỡng cần hiểu được trách nhiệm và vai trò của bản thân trong việc thúc đẩy quá trình lành vết mổ của người bệnh và phòng ngừa biến chứng. Như vậy, để làm tốt những việc trên, người điều dưỡng cần có kiến thức chuyên môn để có thể đánh giá tình trạng vết mổ, phân loại, nhận định thu thập những số liệu liên quan đến vết mổ, có kiến thức trong việc lựa chọn những hóa chất thay băng phù hợp, hỗ trợ tư vấn dinh dưỡng, giáo dục sức khỏe cho người bệnh trong việc sinh hoạt hàng ngày. Chăm sóc vết mổ thông qua việc thay băng vết mổ là một kỹ thuật không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình lành vết mổ, kết quả điều trị mà nó còn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Tại Anh, có khoảng 11 triệu ca phẫu thuật hay can thiệp y học được thực hiện hàng năm, trong đó chi phí dành cho chăm sóc vết mổ chiếm khoảng 3% chi phí ngân sách cho dịch vụ y tế, tương đương khoảng 2,3 – 3,1 tỷ bảng Anh mỗi năm (47) Nghiên cứu ở hai bệnh viện Queenlands-Úc với việc khảo sát 154 điều dưỡng chăm sóc vết mổ, hầu hết điều dưỡng tham gia là nữ 84,4%, độ tuổi được ghi nhận là 21-58 tuổi, số năm kinh nghiệm lâm sàng trung bình là 3,9 năm, gần ¾ điều dưỡng có bằng cử nhân.
Nhìn chung nghiên cứu có sự thống nhất trong các bước thực hành chăm sóc vết mổ của điều dưỡng tuy nhiên rửa tay trước khi thay băng và sử dụng găng tay sạch thì còn thấp và điều đáng lo ngại là tỷ lệ điều dưỡng vệ sinh tay còn thấp sau khi chăm sóc vết mổ chỉ đạt 9.3% so với số điều dưỡng tham gia nghiên cứu vì vệ sinh tay là biện pháp quan trọng trong việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa chuẩn và giảm nguy cơ phát triển nhiễm khuẩn vết mổ trên người bệnh (35).