ĐẶT VẤN ĐỀ Đột quỵ não là một vấn đề thời sự của nền y học thế giới cũng nhƣ Việt Nam. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, không phân biệt nghề nghiệp, giới tính, địa phƣơng, hoàn cảnh kinh tế. Đột quỵ não cũng là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba, chỉ sau ung thƣ và tim mạch và đứng thứ nhất trong các bệnh lý thần kinh, đồng thời để lại nhiều di chứng nặng nề, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội [3]. Một nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật toàn cầu cho thấy từ năm 1990 đến năm 2013, dù tỷ lệ mắc và tử vong có xu hƣớng giảm nhƣng gánh nặng đột quỵ ghi nhận trên số ngƣời bị ảnh hƣởng hoặc những ngƣời di chứng tàn tật hậu đột quỵ đã tăng lên trên toàn cầu [17].
Với sự tiến bộ của y học, tại những đơn vị đột quỵ, ngƣời bệnh đƣợc chăm sóc và điều trị theo hình thức nhóm đa ngành phối hợp giúp khả năng sống sót cao hơn, ngoài ra phục hồi chức năng sau đột quỵ với can thiệp sớm nhằm giảm thiểu tình trạng tàn tật nặng đã giúp nhiều hơn số ngƣời bệnh đột quỵ đƣợc ra viện chăm sóc tại nhà [19]. Ngƣời bệnh sống sót sau đột quỵ để lại di chứng với các mức độ khác nhau, họ phải dựa vào gia đình để đƣợc chăm sóc liên tục và chăm sóc giảm nhẹ trong thời gian dài. Mặc dù ít đƣợc đề cập, ngƣời chăm sóc chính có ảnh hƣởng tối quan trọng trong việc hỗ trợ những ngƣời sống sót sau đột quỵ. Ngƣời chăm sóc chính là ngƣời giúp đỡ ngƣời bệnh cả về thể chất lẫn tinh thần, nhƣng vai trò chăm sóc này có thể dẫn đến gánh nặng của ngƣời chăm sóc, để lại hậu quả không tốt cho tình trạng sức khỏe của chính họ.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về gánh nặng chăm sóc ngƣời bệnh đột quỵ tại nhà [14],[34],[13]. Các nghiên cứu này đều đã chỉ ra gánh nặng của ngƣời chăm sóc ở các mức độ khác nhau và cho thấy một số yếu tố liên quan đến gánh nặng chăm sóc nhƣ: tuổi, giới tính, thu nhập, tình trạng khuyết tật, mối quan hệ, tài chính. Tuy nhiên tại Việt Nam chƣa có nhiều nghiên cứu về gánh nặng chăm sóc trên ngƣời bệnh đột quỵ. Hơn nữa, gánh nặng của ngƣời chăm sóc phụ thuộc vào các 1 yếu tố khác nhau, tùy thuộc vào bối cảnh kinh tế - xã hội và nền văn hóa mà ngƣời chăm sóc sống.
So với các nƣớc trên thế giới thì Việt Nam có nền văn hóa đặc biệt, nhất là về mối quan hệ gia đình, ngƣời Việt Nam coi việc chăm sóc các thành viên là nhiệm vụ quan trọng trong gia đình và sẵn sàng sống với cha mẹ bởi với con ngƣời Việt Nam lòng hiếu thảo là một đức tính tốt, việc chăm sóc cha mẹ là trách nhiệm của con cái và không gì có thể thay thế đƣợc [9]. Do đó, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Gánh nặng chăm sóc ngƣời bệnh đột quỵ não tại nhà của ngƣời chăm sóc chính đến khám khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai” với hai mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng gánh nặng chăm sóc ngƣời bệnh đột quỵ não tại nhà của ngƣời chăm sóc chính đến khám khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai năm 2021 2. Xác định một số yếu tố liên quan đến gánh nặng chăm sóc ngƣời bệnh đột quỵ não tại nhà của ngƣời chăm sóc chính đến khám khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai năm 2021 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Đại cƣơng về đột quỵ não 1. Định nghĩa đột quỵ não Theo Tổ chức y tế thế giới, Đột quỵ não (Stroke – Tai biến mạch máu não) “là các thiếu sót chức năng thần kinh xảy ra đột ngột với các triệu chứng khu trú hơn là lan tỏa, các triệu chứng tồn tại quá 24 giờ hoặc tử vong trong 24 giờ, loại trừ các nguyên nhân sang chấn sọ não” [3],[5],[6]. Phân loại đột quỵ não 1. Nhồi máu não là hậu quả của sự giảm đột ngột lƣu lƣợng tuần hoàn não do tắc một phần hoặc toàn bộ một động mạch não [3],[5],[6].
- Nguyên nhân: hai cơ chế chính gây nhồi máu não là cơ chế nghẽn mạch (thƣờng do huyết khối, cục tắc) và cơ chế huyết động học. + Cơ chế nghẽn mạch: các cục tắc có thể xuất phát từ tim (thƣờng là cục máu đông, mảng xơ vữa, mảng calci hóa hay bọt khí) hoặc là các mảng xơ vữa ở các động mạch lớn theo dòng chảy đến các động mạch nhỏ hơn và gây tắc. Ngoài ra, một số bệnh lý mạch máu nhƣ viêm động mạch, hẹp lòng động mạch hay co thắt động mạch cũng có thể gây nhồi máu não. + Cơ chế huyết động học: do giảm tƣới máu cục bộ trong các trƣờng hợp hẹp tắc động mạch hay giảm tƣới máu toàn bộ khi có những rối loạn của hệ thống tuần hoàn gây giảm huyết áp cấp tính, suy tim…Lƣu lƣợng máu não khi này sẽ phụ thuộc vào hệ thống tuần hoàn bàng hệ trong não, mức độ tổn thƣơng phụ thuộc vào sự tái lập của dòng máu bù trừ.
- Triệu chứng lâm sàng: thƣờng không có rối loạn ý thức, đau đầu, choáng váng, chóng mặt, rối loạn ngôn ngữ, liệt nửa ngƣời, liệt dây thần kinh sọ não, khó nuốt…. - Cận lâm sàng: chẩn đoán hình ảnh rất quan trọng trong tai biến mạch máu não, giúp phân biệt, xác định thể bệnh và nguyên nhân gây tai biến. 3 + Chụp cắt lớp vi tính sọ não: giúp xác định vị trí, kích thƣớc tổn thƣơng. + Chụp cộng hƣởng từ sọ não: giúp chẩn đoán xác định nhồi máu não, phát hiện sớm tổn thƣơng kể cả các tổn thƣơng nhỏ.
Chảy máu não là tình trạng chảy máu trong nhu mô não hoặc tràn ngập máu ở não thất [3],[5],[6]. - Nguyên nhân: nguyên nhân ở ngƣời trẻ thƣờng do dị dạng mạch, ngƣời già do tăng huyết áp. - Triệu chứng lâm sàng: khởi bệnh đột ngột với tam chứng chảy máu não: đau đầu dữ dội, nôn và rối loạn ý thức. Ngoài ra bệnh cảnh có thể có các triệu chứng: rối loạn nhịp thở, tăng tiết đờm dãi, nuốt sặc, liệt nửa ngƣời, rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn cơ tròn.
Tình trạng nặng có thể hôn mê sâu, co giật, duỗi cứng, suy hô hấp nặng nề, huyết áp tăng và thƣờng tử vong trong những ngày đầu. - Cân lâm sàng: chụp cắt lớp vi tính sọ não là phƣơng pháp đƣợc lựa chọn hàng đầu để khẳng định có máu chảy trong não và xác định mức độ tổn thƣơng. Chảy máu dưới nhện. Chảy máu dƣới nhện là tình trạng chảy máu màng não do vỡ một mạch máu ở khoang dƣới nhện [5].
Nguyên nhân: do vỡ túi phình động mạch, do tổn thƣơng thành mạch, lóc tách động mạch,… hoặc do từ nhu mô não tràn ra. - Lâm sàng: khởi phát đột ngột, thƣờng sau khi gắng sức (ho, rặn…), biểu hiện đau đầu dữ dội, sợ ánh sáng, sợ tiếng động, kích thích vật vã, các dấu hiệu màng não rõ đặc biệt là gáy cứng, thƣờng là không có các dấu hiệu thần kinh khu trú nhƣng cũng có thể gặp do co thắt mạch gây nhồi máu não nhƣ liệt nửa ngƣời. Tình trạng nặng ý thức giảm dần kèm theo rối loạn hô hấp và rối loạn thần kinh thực vật khác. - Cận lâm sàng: + Chọc dịch não tủy: có máu ở trong dich não tủy, màu hồng đều không đông là chẩn đoán chắc chắn.
+ Chụp cắt lớp vi tính sọ não: hình ảnh chảy máu ở trong khoang dƣới nhện và trong não thất. + Chụp mạch não có thể phát hiện nguyên nhân (túi phình mạch não hay dị dạng thông động – tĩnh mạch não). Tình hình đột quỵ não trên thế giới và tại Việt Nam 1. Trên thế giới Hàng năm, trên thế giới có khoảng 16 triệu ca đột quỵ mới, 5,7 triệu ca tử vong, do đó đột quỵ đƣợc xếp hạng là nguyên nhân tử vong thứ hai trong dân số thế giới sau bệnh thiếu máu cơ tim (chỉ đứng thứ ba nếu xếp chung các nguyên nhân gây ung thƣ thành một nhóm) [16].L và cộng sự (2012), ở Mỹ số ngƣời bệnh sau đột quỵ khôi phục gần nhƣ hoàn toàn chiếm tỷ lệ 10%, có 25% ngƣời bệnh hồi phục với di chứng tối thiểu.
Số ngƣời bệnh bị đột quỵ ở mức độ từ trung bình đến nặng đòi hỏi sự chăm sóc đặc biệt là 40%, trong đó, số bệnh nhân cần đƣợc điều dƣỡng chăm sóc tại nhà hoặc chăm sóc dài hạn ở cơ sở y tế là 10% [35]. và cộng sự, đột quỵ chiếm 11,1% các trƣờng hợp tử vong và 4,1% các trƣờng hợp bị tàn phế vĩnh viễn trên thế giới. Phần lớn gánh nặng đột quỵ thƣờng xuất hiện ở những ngƣời trẻ hơn 75 tuổi, trong đó có 61,9% trƣờng hợp đột quỵ mới. Ở nhóm bệnh nhân này, tỷ lệ tử vong lên tới 45,4% và trong số sống sót, 71,5% tàn phế vĩnh viễn.
Gánh nặng này đặc biệt nặng nề ở các nƣớc có thu nhập thấp và trung bình [24]. Số liệu từ Murray và cộng sự (1990 – 2010) cho thấy, trong năm 2010, đột quỵ là nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng tàn tật của ngƣời bệnh tại Hoa Kỳ [31]. Mặc dù tỷ lệ tử vong do đột quỵ đã giảm nhƣng gánh nặng toàn cầu từ những ngƣời sống sót và tỷ lệ tàn phế vĩnh viễn vẫn tiếp tục gia tăng, đặc biệt là gánh nặng cho các nƣớc có thu nhập thấp và trung bình. Theo dự đoán, đến năm 2030, sẽ có gần 12 triệu ngƣời chết do đột quỵ, 70 triệu ngƣời sống sót sau đột quỵ và trên 200 triệu ngƣời bị tàn phế vĩnh viễn trên toàn cầu [17] 1.
Tại Việt Nam Theo báo cáo thƣờng niên ngành Y tế Việt Nam năm 2014, đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu trong 10 nguyên nhân lớn nhất gây gánh nặng trên nhóm bệnh không lây nhiễm. Đột quỵ cũng là nguyên nhân hàng đầu trong xu hƣớng 20 nguyên nhân gây gánh nặng bệnh tật lớn nhất tại Việt Nam [2]. 5 Theo tác giả Lê Văn Thính và cộng sự, nghiên cứu tại 78 bệnh viện từ tuyến tỉnh trở lên trong 64 tỉnh, thành trên cả nƣớc, sử dụng bộ câu hỏi điều tra của Tổ chức Đột quỵ thế giới để nghiên cứu hồi cứu tình hình và thực trạng chẩn đoán, chất lƣợng điều trị trên 4120 bệnh nhân đột quỵ nội trú cho thấy tỷ lệ số bệnh viện có ngƣời bệnh đột quỵ (>20 bệnh nhân/tháng) cao nhất ở miền Nam (93,3%) và thấp nhất ở miền Trung (73,3%).