ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn đường sinh dục (NKĐSD) là một bệnh thường gặp nhất ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đặc biệt ở những nước đang phát triển và chậm phát triển. NKĐSD là thuật ngữ dùng để chỉ cả nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục và các loại nhiễm khuẩn khác không lây qua quan hệ tình dục [4]. NKĐSD được chia làm hai loại theo vị trí giải phẫu gồm: NKĐSD trên (từ tử cung lên buồng trứng) và NKĐSD dưới (từ âm hộ đến cổ tử cung) Nhiễm khuẩn đường sinh dục nói chung cũng như nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới (NKĐSDD) nói riêng gây nên nhiều hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống không chỉ của người phụ nữ mà còn cả của người chồng. Bệnh có thể gây ra những hậu quả nặng nề liên quan đến thai nghén như v sinh, chửa ngoài tử cung, thai chết lưu, sảy thai.
Ngoài ra, phụ nữ mắc bệnh lâu dài có thể bị nhiễm khuẩn vùng tiểu khung, viêm tử cung, viêm phần phụ mạn tính, thậm chí dẫn đến ung thư cổ tử cung (CTC). Đặc biệt, bệnh còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc lây truyền HIV/AIDS [9]. Nếu kh ng điều trị triệt để, bệnh dễ tái phát và có thể trở thành mạn tính. Theo Quỹ Dân số Liên hiệp Quốc, mỗi năm toàn cầu có khoảng 340 triệu trường hợp mắc NKĐSDD mới, ước tính nhiễm mới tăng hơn 1 triệu người/năm – có nghĩa là cứ 7 người ở độ tuổi sinh đẻ thì có hơn 1 người bị nhiễm [25].
Chiến lược Dân số - Chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011- 2020 đã xác định một trong những thách thức kh ng nhỏ của tình hình sức khỏe sinh sản (SKSS) ở nước ta là tình trạng NKĐSDD còn khá phổ biến. Nghiên cứu năm 2004 trên 8880 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ của 8 vùng sinh thái khác nhau trong cả nước cho thấy tỷ lệ NKĐSDD là 60%, trong đó chủ yếu là viêm âm đạo và viêm CTC [33]. Đại Từ là một huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên khoảng 25 km. Huyện có đặc thù của một huyện miền núi còn nhiều khó khăn, dân cư 98% là trồng chè và làm nông nghiệp.
Dân số huyện Đại Từ năm 2012 là khoảng 160. Huyện có dân cư pha tạp, tỷ lệ người dân tộc chiếm tới trên 20%, điều kiện kinh tế cũng như sinh hoạt và vệ sinh còn nhiều hạn chế. Mặc dù mỗi xã 2 đều có trạm y tế nhưng do nhận thức của người dân còn chưa cao nên việc tiếp cận dịch vụ y tế còn chưa được họ quan tâm một cách đúng mức, chỉ có khi bệnh có diễn biến nặng, nghiêm trọng người dân mới đi khám và điều trị. Tình hình các vấn đề sức khỏe ở đây khá phức tạp, một trong số đó là vấn đề về NKĐSDD.
Theo thống kê sơ bộ năm 2013 của Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản (TTCSSKSS) tỉnh Thái Nguyên, Đại Từ là một trong những huyện có tỷ lệ NKĐSDD cao của tỉnh ước tính gần 50%. Một trong những vấn đề mà các cấp các ngành, nhất là ngành y tế ở đây rất quan tâm đó là việc tìm hiểu mối liên quan cũng như những nguyên nhân có thể dẫn đến tỷ lệ NKĐSDD cao ở địa phương này. Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Một số yếu tố liên quan tới nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở phụ nữ 18 – 49 tuổi có chồng tại huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên năm 2014”. Mô tả hiện trạng nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở phụ nữ 18 – 49 tuổi có chồng tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Xác định một số yếu tố liên quan tới tình trạng nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở phụ nữ 18 – 49 tuổi có chồng tại huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên. 4 Chƣơng 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về nhiễm khuẩn đƣờng sinh dục 1. Định nghĩa Nhiễm khuẩn đường sinh dục (NKĐSD) được định nghĩa là bệnh lý viêm nhiễm tại cơ quan sinh dục.
NKĐSD là một thuật ngữ rộng bao gồm các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục và các nhiễm khuẩn khác không lây truyền qua đường tình dục. Các NKĐSD gây ra bởi các vi sinh vật (VSV) thường có mặt tại đường sinh dục hoặc do các VSV từ bên ngoài vào, thông qua hoạt động tình dục hoặc qua các thủ thuật y tế [13]. Phân loại Theo tác nhân gây bệnh NKĐSD là một bệnh thường gặp nhất ở phụ nữ, đặc biệt ở các nước đang phát triển. NKĐSD gồm 3 nhóm bệnh [9]: Các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục: Giang mai, lậu, trùng roi sinh dục, Herpes sinh dục, sùi mào gà, nhiễm Chlamydia trachomatis vv.
Các nhiễm khuẩn nội sinh: do phát triển quá mức các VSV sống cộng sinh trong đường sinh dục bao gồm viêm âm đạo do vi khuẩn, viêm âm hộ - âm đạo do nấm. Các nhiễm khuẩn ngoại sinh: do các thủ thuật y tế không vô khuẩn như thăm khám phụ khoa, sinh đẻ, nạo hút thai hoặc thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) kh ng an toàn. Theo vị trí giải phẫu Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới (từ âm hộ đến cổ tử cung). Dưới vòng bám âm đạo bao gồm: viêm CTC, viêm âm hộ, âm đạo và tuyến sinh dục.
Nhiễm khuẩn sinh dục trên (từ tử cung lên buồng trứng): Viêm niêm mạc tử cung và viêm phần phụ. Đặc điểm nhiễm khuẩn đƣờng sinh dục dƣới ở phụ nữ 1. Giải phẫu cơ quan sinh dục dưới của phụ nữ Cơ quan sinh dục dưới của nữ bao gồm: âm hộ, âm đạo, CTC. Bộ phận này có liên quan chặt chẽ với da và hậu m n, kh ng có phương tiện ngăn cách hữu hiệu.
Âm hộ: Gồm môi lớn và môi bé, giữa có tuyến Bartholin, tuyến chế tiết chất nhầy giữ cho âm đạo luôn ẩm ướt. Âm đạo: Là một ống đi từ cổ tử cung đến âm hộ. Âm đạo nằm phía sau bàng quang, niệu đạo, nằm trước trực tràng. Âm đạo và tử cung gấp góc 90o.
Cổ tử cung dài 2,5cm, rộng 2,5cm, khi sinh đẻ nhiều CTC sẽ ngắn lại. Đặc điểm sinh lý âm đạo, cổ tử cung: Phụ nữ ở thời kỳ hoạt động tình dục bình thường thì pH dịch CTC mang tính kiềm nhẹ thay đổi từ 7 - 7,5; pH dịch âm đạo có tính acid từ 3,6 - 4,6. M i trường acid tự nhiên này liên quan tới trực khuẩn Doderlein có trong âm đạo. pH âm đạo còn phụ thuộc nhiều estrogen của buồng trứng tiết ra.
Sự có mặt của trực khuẩn Doderlein giúp ngăn cản sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh, do đó tạo khả năng bảo vệ âm đạo và CTC. Các trực khuẩn Doderlein này cũng gắn chặt với tế bào biểu m âm đạo và ngăn cản sự gắn kết của các vi khuẩn gây bệnh khác vào tế bào biểu m âm đạo. ình thường âm đạo và mặt ngoài CTC gồm 2 lớp biểu mô phủ và lớp đệm. Biểu mô phủ là biểu mô lát tầng không sừng hóa và thay đổi phụ thuộc vào nồng độ estrogen theo từng lứa tuổi của phụ nữ.
Ống cổ tử cung được phủ bởi một lớp biểu mô trụ có tác dụng chế nhầy [10]. Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới là viêm đường sinh dục từ âm hộ đến CTC dưới vòng bám âm đạo gồm: viêm CTC, viêm âm hộ, viêm âm đạo và tuyến sinh dục. Các thể lâm sàng thường gặp [4], [7], [10]: Viêm âm hộ: Âm hộ viêm đỏ, ngứa, xung huyết, phù nề, loét hoặc có vết trợt trắng âm hộ. Có thể thấy mủ vàng, xanh chảy ra từ các lỗ của tuyến Skène, tuyến Bartholin.
6 Các nguyên nhân gây viêm âm hộ là do vi khuẩn từ đường tiêu hóa, tiết niệu lan sang như: E.coli, liên cầu, tụ cầu hoặc do vi khuẩn lậu. Viêm âm đạo: Viêm âm đạo do nấm Candida: Thường gặp viêm âm đạo do nấm Candida albicans, còn lại là các chủng nấm như C. Biểu hiện lâm sàng: Âm hộ, âm đạo ngứa, ra khí hư bột, có thể đái khó, đái buốt. Đ i khi bệnh nhân có cảm giác bỏng rát hoặc đau khi giao hợp.
Khám thấy âm hộ, âm đạo có khí hư bột trắng như váng sữa. Viêm âm đạo do Trichomonas: Biểu hiện ngứa, ra nhiều khí hư mùi h i khó chịu, đau khi giao hợp. Khám thấy âm hộ viêm đỏ, khí hư trắng loãng hoặc màu vàng, xanh, có bọt, kém bắt màu lugol, tạo nên hình ảnh “sao đêm” khi soi CTC. Viêm âm đạo do vi khuẩn (bacteria vaginosis): thường do mất cân bằng hệ VSV ở âm đạo.
ình thường trong âm đạo có nhiều VSV, phổ biến nhất là Lactobacillus crispatus và Lactobacillus jensenii. Trực khuẩn Lactobacilli giúp ổn định hệ VSV trong âm đạo để ngăn ngừa bệnh. Những thay đổi hệ VSV trong âm đạo như giảm trực khuẩn Lactobacillus thường do sử dụng kháng sinh, hoặc mất cân bằng pH làm cho các vi khuẩn có hại khác sinh sôi phát triển và gây bệnh. Các vi khuẩn gây viêm âm đạo thường rất đa dạng, nhưng những loại thường gặp nhất là: Gardnerella vaginalis, Mobiluncus, Bacteroides, và Mycoplasma.
Viêm cổ tử cung [4] Viêm cấp tính: ra khí hư nhiều, khám thấy CTC tấy đỏ, phù nề, thường kết hợp với viêm âm đạo, chất nhày CTC đục, có thể dạng như mủ. Viêm mạn tính: tổn thương khu trú quanh lỗ ngoài CTC, khám thấy CTC đỏ tấy, sần sùi, hoặc loét, khí hư nhiều. Tác nhân gây viêm cổ tử cung: thường gặp do tạp khuẩn, lậu cầu và Chlamydia trachomatis. 7 Trong phạm vi nghiên cứu này, do điều kiện cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị kỹ thuật của địa phương còn hạn chế, trình tự khám của TTCSSKSS tỉnh chỉ bao gồm hỏi lâm sàng và xét nghiệm nấm, tạp khuẩn và trùng roi nên chúng tôi chỉ đề cập đến những viêm nhiễm đường sinh dục dưới do các loại tác nhân này.
Hậu quả của nhiễm khuẩn đƣờng sinh dục dƣới NKĐSDD kh ng đe dọa ngay đến tính mạng nhưng để lại nhiều hậu quả. Bệnh có ảnh hưởng đến sức khỏe, năng suất lao động, chất lượng cuộc sống và sức khỏe sinh sản [13]. NKĐSDD thường gây ảnh hưởng đến cả thể chất và tinh thần của người phụ nữ. NKĐSDD gây cho người bệnh khó chịu, có thể đau đớn hay ngứa ngáy, gây mất tập trung, ảnh hưởng đến năng suất lao động.
Thêm vào đó, người bị NKĐSDD còn có ảnh hưởng đến tâm lý, mặc cảm, cảm thấy ngại ngùng, mất tự tin, giảm khoái cảm trong quan hệ tình dục.