Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC XÉT XỬ GIÁM ĐỐC THẨM 1. Tổng quan về thủ tục xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự và vị trí, chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm 1. Khái quát chung về thủ tục xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự 1. Khái niệm, bản chất của thủ tục xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự *Khái niệm thủ tục giám đốc thẩm Thủ tục tố tụng được hiểu là toàn bộ các trình tự, thủ tục, cách thức, thời hạn tiến hành …của một số các cơ quan để có được một phán quyết về một vấn đề tranh chấp.
Tùy thuộc vào mỗi loại tranh chấp, yêu cầu của người giải quyết tranh chấp sẽ có các thủ tục tố tụng khác nhau. Nếu căn cứ vào tính chất của chủ thể ra phán quyết có thể chia thành thủ tục tố tụng Tòa án và thủ tục tố tụng tại các cơ quan hành chính trong việc giải quyết các tranh chấp. Thủ tục tố tụng Tòa án được hiểu là toàn trình tự, thủ tục, quy định việc giải quyết một vụ án hình sự, dân sự hoặc hành chính. Thủ tục tố tụng này thường được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như: thủ tục tố tụng hình sự, thủ tục tố tụng dân sự, thủ tục tố tụng hành chính… hoặc thủ tục tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm (thủ tục sơ thẩm), thủ tục tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm (thủ tục phúc thẩm), thủ tục tố tụng tại Tòa giám đốc thẩm Một số các quốc gia khác (thường là các nước theo truyền thống thông luật lại không áp dụng chế độ hai cấp xét xử.
Nếu không đồng ý với phán quyết của Tòa án, đương sự có quyền kháng cáo nhưng tại mỗi cấp Tòa án khác nhau, pháp luật lại quy định các căn cứ kháng cáo khác nhau. Ở các 8 quốc gia này, không có khái niệm bản án, có hiệu lực pháp luật, bản án chung thẩm vì vậy không có thủ tục xét lại bản án có hiệu lực pháp luật mà các nước theo truyền thống dân sự gọi là thủ tục phá án hoặc thủ tục giám đốc thẩm. Các nước này thường quy định thủ tục tại Tòa sơ thẩm hoặc Tòa kháng cáo (Appeal Court). Tại mỗi Tòa kháng cáo cũng có những căn cứ, thủ tục khác nhau: Ví dụ Nhật Bản mặc dù không phải là quốc gia điển hình theo truyền thống thông luật song pháp luật tố tụng Tòa án của Nhật Bản có khá nhiều điểm tương đồng với pháp luật các nước này.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự và Quy chế số 5 ngày 17 tháng 11 năm 1996 của Tòa án tối cao Nhật Bản, chế độ xét xử được thực hiện theo ba cấp: Cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm koso, cấp phúc thẩm Jokoku, Kokoku, hoặc tái thẩm. Trong các thủ tục này, phúc thẩm Jokoku có tính chất gần giống với tính chất của thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng Tòa án của Việt Nam, Liên bang Nga, Trung Quốc hoặc thủ tục phá án theo pháp luật của cộng hòa Pháp và một số nước khác trên thế giới. Sở dĩ pháp luật tố tụng ở Nhật Bản gọi thủ tục này là thủ tục phúc thẩm vì theo quan điểm lập pháp và theo pháp luật hiện hành thì không có khái niệm “bản án có hiệu lực pháp luật” (thực chất là hiệu lực thi hành) như các nước khác. Sau khi phúc thẩm Koso (có tính chất tương tự như phúc thẩm ở nước ta), nếu thấy có căn cứ theo quy định của pháp luật thì đương sự có quyền kháng cáo Jokoku và bản án chưa được thi hành [32].
Ở những nước thực hiện chế độ hai cấp xét xử (thường là các nước theo truyền thống luật dân sự và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây như Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam…sau khi xét xử lần đầu (sơ thẩm) nếu không đồng ý với phán quyết của Tòa án, đương sự có quyền kháng cáo để Tòa án có thẩm quyền xét xử lại (phúc thẩm). Sau khi xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm mà không có kháng cáo của đương sự hoặc kháng nghị của VKS trong thời hạn pháp luật quy định thì phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật và phán quyết đó phải được thi hành. Tuy nhiên trong trường hợp phán quyết của Tòa 9 án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có sai lầm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của đương sự và các chủ thể khác thì pháp luật các nước đều cho phép kháng cáo để xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực đó với các tên gọi khác nhau như: thủ tục phá án, thủ tục giám đốc thẩm… để hạn chế đến mức tối đa những phá quyết sai lầm của Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhà nước, các đương sự và các chủ thể khác [32]. Hệ thống xét xử của Toà án nhân dân ở nước ta gồm hai cấp: cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm.
Hệ thống xét xử hai cấp được hiểu là bản án sơ thẩm (chưa có hiệu lực pháp luật) còn có thể bị cấp phúc thẩm xét xử lại trong trường hợp có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật. Việc xét xử hai cấp không có nghĩa là cấp sơ thẩm xét xử xong là mặc nhiên đến cấp xét xử phúc thẩm xử lại. Nếu có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật thì Toà án cấp phúc thẩm phải tổ chức xét xử phúc thẩm nhằm sửa chữa những sai lầm mà Toà án cấp sơ thẩm mắc phải, bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Tuy nhiên, về nguyên tắc bản án, quyết định của Toà án luôn phải đảm bảo tính hợp pháp và tính có căn cứ, do đó, việc xem xét tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định không những được thực hiện trước khi chúng có hiệu lực pháp luật, mà ngay cả sau khi chúng có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện thấy những vi phạm thì sẽ bị kháng nghị theo quy định của pháp luật. Khi đó, sẽ nảy sinh mâu thuẫn: một là yêu cầu về tính bắt buộc phải thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; hai là, yêu cầu về nguyên tắc pháp chế trong tố tụng dân sự đòi hỏi các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng vi phạm pháp luật phải hủy bỏ. Giải quyết không đúng mâu thuẫn này hoặc sẽ làm xáo trộn thêm các quan hệ dân sự vốn đã bị xáo trộn bởi tranh chấp, bởi vi phạm trước đó hoặc sẽ phải chấp nhận hiện tượng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự không được bảo vệ thoả đáng. Hậu quả là 10 trong cả hai trường hợp, uy tín và hiệu lực xét xử của Toà án đều bị giảm sút.
Để khắc phục tình trạng này, pháp luật tố tụng dân sự nước ta đã quy định một thủ tục đặc biệt nhằm xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện thấy sai lầm. Đó là thủ tục giám đốc thẩm. Thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự được quy định khá sớm và không ngừng được hoàn thiện cho phù hợp với tổ chức của các cơ quan tư pháp nói chug và hệ thống Tòa án nói riêng đồng thời phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế và công cuộc cải cách tư pháp của Nhà nước ta. Trong nhiều năm qua các quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp theo thủ tục giám đốc thẩm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Giám đốc thẩm” là Tòa án có thẩm quyền xét lại các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới khi bị kháng nghị trên cơ sở phát hiện có sai lầm trong quá trình điều tra, xét xử vụ án” Theo cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học”, “Giám đốc thẩm” là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị vì phát hiện có vi phạm trong việc xử lý vụ án” Tại Điều 325 BLTTDS năm 2015 quy định “GĐT là việc xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị GĐ Tkhi có căn cứ quy định tại Điều 326 của Bộ luật này” Các căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm bao gồm: “a) Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự; b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật; 11 c) Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba”. Như vậy rõ ràng, GĐT là một thủ tục đặc biệt của tố tụng dân sự trong đó Toà án cấp trên xét lại vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới bị kháng nghị do phát hiện thấy những sai lầm. GĐT là một thủ tục đặc biệt bởi lẽ đối tượng bị kháng nghị là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Xét lại là kiểm tra xem xét tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Tính hợp pháp của bản án, quyết định thể hiện ở chỗ nội dung của nó phải phù hợp việc quy định của pháp luật dân sự và về hình thức phải phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Tính có căn cứ thể hiện ở chỗ, kết luận trong bản án, quyết định phải phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án. Tuy nhiên, cũng cần phải phân biệt giữa thủ tục giám đốc thẩm với giám đốc việc xét xử. Trước đây hai khái niệm này đều được dùng với một ý nghĩa.