CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM ÁN LỆ VÀ DIEU KIỆN ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHAP DÂN SỰ 1. Khai niệm và đặc điểm của án lệ LLL niệm án lệ Án lệ xuất hiện từ đâu thé kỹ XI, khởi nguồn từ hệ thống Common law. Án lệ đã hình thành và được áp dung tại nước Anh tir cuối thé kỹ XI, từ đó tạo ra hình thức pháp luật gọi là Thông luật. Thông luật ở Mỹ năm 1776 kế thừa Thông luật của nước Anh, có sự thay đổi phủ hợp với tinh hình, điều kiện của 13 bang thuộc Mỹ.
Tai các nước thuộc hệ thống Common law - Thông luật (Anh, Mỹ, Canada, Uc.), án lê là nguồn luật chính. Án lê được hình thành từ tục lê trong xét xử, sự hình thảnh cia án lệ từ sự lặp đi lấp lại một giải pháp cho những van để pháp lý tương tự nhau, tạo nên một chuỗi suy nghĩ trùng hợp về cách hiểu va áp dụng pháp luật. Nói cách khác, án lệ bao gồm những nguyên tắc rút ra từ vụ án trước đó, hoặc các vu án ma các tòa án khác phải ap dung khi những vụ án sau có những tinh tiết tương tự. Án lệ theo quan điểm của các nước có truyền thông thông luật gin liên với nguyên tắc bắt buộc tuân.
theo án lệ (stare decicis) Tai các được thuộc hệ thống Civil law- Dân luật (Pháp, Đức, Nhật Bản.),án lê được coi là nguồn luật thứ yêu sau các văn ban thuộc luật than văn, tda cấp đưới không cỏ nghĩa vụ phải tuên theo án lệ của tòa cấp trên Đôi với các nước thuộc hệ thống Civil law, án lê không có nhiều ý ngiĩa trong sự phat triển hệ thông pháp luật các nước nay ma nén tảng của nó phát triển từ Luật La Mã Theo Từ điển Back’s Law, an lệ 6 các nước thuộc hệ thống thông luật được hiểu là “các vụ án đã được giải quyết tao cơ sở cho việc giải quyết các ‘vu án sau nảy với những sự kiện hoặc van để pháp lý tương tự”. "gan A Garper ed (200, Black sLaw Dictionary, 8 ede 1102 tích bong tà la Nguyễn Bá Bink(QUIS), Auld và sĩ mg dn ý mơng do tạo lu ở Việt Nem ig nạ. XP Te php Hà Nội 9 Theo Từ điển pháp luật Anh ~ Việt, khái niêm án lê “precedent” được hiểu như sau: "Lới phần quyết của tòa án, thống thưởng được ghi lại trong tap san an lệ (Law Report) và sử dung như một quyền dé đưa ra quyết định tương, tu trong các vu án tiếp theo "2, Tai Anh, án lê được hiểu như sau: “Theo nghĩa rông, an 1é liên quan đến việc sử dung các quyết định , bản an của các vu an đã được xét xử trước. đồ như là những tuyên bổ có quyển uy trong pháp luật và dùng để lam cơ sỡ cho giải quyết các vu việc sau đó.
Theo ngiĩa hep, án lệ đồi hỏi thẩm phán "rung mất lồn ấn cy! tôn trong vả tuân theo các ban án đã tuyên của các tòa án cấp trên theo nguyên tắc bat buộc "2 Tại Pháp, khải niệm án lệ hiểu theo nghĩa rộng la tat cã các bản án, quyết định của Toa án đã tuyến trên lãnh thé nước Pháp; theo nghĩa hep, án lê là cách Tòa án giải thích và áp dụng pháp luật cho những van để pháp lý lấp lại trong những vụ việc tương tư ® Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thi án lệ được hiểu là "Quyết đinh: hoặc ban án của tòa cấp trên có giá trị bắt buộc đối với tòa cắp dưới; tòa phá: ám cling phải tôn trong quyét định trước đó của bản thân minh (riêng ở MẸ, Tòa án tỗi cao không tự coi mình có trách nhiệm a6)" Š Theo Từ điển Luật học, án lệ là “Bén án đã tuyên hoặc một sue giải thích, áp dung pháp luật được coi là ti lệ lầm cơ số đễ các thẫm phán sen 6 có thé áp dung trong các trường hợp tương ne" ® ‘Theo Tir điển Tiéng Việt, từ "án" có nghĩa là “vu pham pháp hoặc tranh chấp quyển lợi cân được sét xử trước Téa an hoặc quyết định của Toa án xét xử vụ án, từ "1ê" có nghĩa là "điều quy định có từ lâu đã tré thành né nép, moi ‘pane Sơn.) To er hệ hồn dn cae Công lỏa Php Tg on oe oe it Sima 2003,TANDTC, tr25, b2€ tích tong ti liga Học viện Toa fn (2019), Giác minh đn lệ à đục nếnxét vĩ, NEB Dat hos Quốc Gia Hà Nei, Hà Nei, tr24, 025, ˆ Bụng tâm biên soạn từ điền Bách khoa VietNam (1999), Từ đến Réch khoa Việt Nam tấp 1, RE Te điện Bách khoa Hà Nột, tr46 ˆ Viên khoa học pháp ý Bộ Tự pháp (2006), Từ dn Lut học, NEB Tư pháp và NXB Te điền Bách khoa, Bà Nội, 13 người cứ theo thé ma lâm hoặc điều đó được lấp đi lšp lại nhiễu lẫn, tự nhiên thành thói quen”. Trong thời kỳ phong kiến của Việt Nam, khái niệm án lệ không hiện hữu. Thời Pháp thuộc, các học thuyết pháp lý của Pháp ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật Việt Nem, mang những đặc điểm của truyền thống pháp luật Civil Law. Hòa ước Giáp Thân năm 1884 đã phân định Viết Nam chỉ còn lại Bac Ky va Trung Kỳ bi bao hộ, Nam Kỹ trở thành thuộc dia của Pháp.
Dan Tuật Việt Nam thời Pháp thuộc không được áp dụng thống nhất, Bắc Kỷ áp dụng Bô Dan luật năm 1931, Trung Ky áp dung Bộ Dân luật năm 1936, Nam Kỷ áp dung Bộ Dân luật Giãn yêu năm 1883”. Thời ky này đã xuất hiện ân lệ với vai trò giải thích pháp luật, bỗ sung những thiéu sót của các điều luật đã ‘ban hành nhưng chưa được áp dung nhiễu trong thực tiễn. Thời kỳ các chế độ 'Việt Nam Cộng hòa đã thừa nhận án lệ với tu cách nguồn luật bỗ sung, vai tro đã được nâng cao. Tuy nhiên, tại những thời kỳ này chưa đưa ra khái niệm án lệ cụ thể "Từ sau năm 1945, từ “án lể" đã được sử dung trong một số van bản, xác đính việc sử dụng án lệ có tính hướng dẫn.
Thông tư số 422/TTG của Thủ tướng Chính phủ ngây 19/1/1955, Thông tư số 19-VHH ngày 30/6/1955 của Bo Tư pháp về áp dung luật lệ, Thông tư số 92-TC ngày 11/11/1959 cia Bộ ‘Tupháp — Toa án nhân dân Tôi cao giải thích và quy định cu thể v nhiệm vu và quyển han của các Tòa án phúc thẩm Hà Nội, Hai Phòng và Vinh. Tập san từ pháp số 03 năm 1964 cd gii thích “Am lệ là một danh từ cũ đã được ding từ thời Pháp thuộc. Án lệ là những quy tắc do các Tòa án trong khi vận dung pháp luật để xét xử các vụ án cụ thể đã hình thành dân dân bằng. cách hiểu va co thái độ giải quyết giống nhau một số điểm pháp lý, ap dung uật một cách giống nhau trong nhiều vụ án”.
Theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bô Chính tị vẻ Chiến lược hoàn thiên hệ thống pháp luật định hướng đến năm 2020 vả Nghỉ quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bô Chính trị vé Chién lược cãi cách tự pháp đến năm 2020 giao cho Tòa án nhân dân Téi cao nhiệm vụ phát triển Din luật ki luận, NXP Bộ Quốc gia giáo duc, Sài Gòn 219 (1961), án lệ với nôi dung “Tòa án nhân dân Tối cao cỏ nhệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thông nhất pháp luật, phát triển án lê và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm.” Tai điểm c, khoản 2, Điều 22 Luật Tổ chức Tòa án quy định nhiệm vụ của Hội ding Thẩm phản Tòa án nhân dân Téi cao: "Lưa chon quyết định giám đốc thẩm của Hội đẳng Tham phan Toa án nhân dan Tối cao, bản án, quyết đính đã có hiệu lực pháp luật, có tỉnh chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ vả công bo án lệ dé các Tòa an nghiên cứu, ap dụng trong xét xử" ‘Theo Quan điểm chi đạo tại Quyết định phê duyét để án “phát triển án. lệ cũa Tòa án nhân dân Tối cao” số 74/QĐ-TANDTC ngày 31/10/2012 thì “ An lệ là Quyết định giám đốc thẩm của Hội đông Thẩm phan Toa án nhân. dân Tối cao và Quyết định giám đốc thẩm của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân Téi cao được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua, trở thành án lệ có giá trị tham khảo đối với Thẩm phán khi giải quyết các vụ. việc cụ thé”.
Tại Điểu 1, Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18 tháng 6 năm 2019 về quy trình lựa chon, công bổ va áp dung án lệ do Tòa án nhân dân Tối cao ban hành quy định: “An lệ là những lập luân, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án vẻ một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phản Tòa án nhân dân Tôi cao lựa chon và được Chánh án Toa án nhân dân Tôi cao công bé la án lệ dé các Téa an nghiên cứu, áp dụng trong xét xử” Nov vậy, án lệ tại Việt Nam được hiểu lả các lập luận, phán quyết trong. ‘ban án, có tính chuẩn mực, có giá tri lam rổ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau, phân tích, giải thích các vẫn để, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy pham pháp luật cin áp dung trong môt vụ việc cụ thể hoặc thể hiện 1é công bang đổi với những van dé chưa có điều luật quy định cụ thể, có giá trị hướng dan áp dụng thống nhất pháp luật trong z:ét xử Theo quy định này, án lệ tại Việt Nam không chỉ lá những lập luôn ma con la phán quyết trong bản án, quyết định. Quan niệm nay có sự khác biệt ‘voi bản chất của án lệ theo quan niệm của nhiều nước trên thé giới, khi mà an lệ là những lập luận, căn cứ để Tòa án phán quyết, không phải la phản quyết trong bản án Mất khác, vì hệ thống pháp luật Việt Nam xây dựng trên cơ sở pháp uất thuộc hệ thông Dân luật nên định hướng sử dụng án lệ như phương thức để gii thích pháp luật, không nhằm tao ra luật mới Trên cơ sở nghiên cứu các khái niệm về án lê, học viên đưa ra khải niêm về án lệ như sau.