Chương 1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước kiểu mới, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta là quyền lực nhà nước là thống nhất và tất cả quyền lực thuộc về nhân dân.
Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, do nhân dân bầu ra đó là Quốc hội với vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Tuy nhiên Quốc hội không nắm giữ toàn bộ quyền lực đó mà quyền lực nhà nước có sự phân công, phân nhiệm và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Điều này được ghi nhận cụ thể trong tất cả các Hiến pháp của nước ta. Cụ thể tại Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) quy định: 1.
Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp [42, Điều 2] 8 z Xuất phát từ bản chất và đặc điểm cơ bản nhất của nhà nước ta, phải đảm bảo nguyên tắc tập trung thống nhất quyền lực, kết hợp với nguyên tắc tập trung dân chủ để phân công, phân nhiệm cho từng cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo tính tập trung nhưng vẫn phát huy tính tự chủ để thực hiện tốt quyền lực của nhân dân. Về nguyên tắc, Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, Tòa án thực hiện quyền tư pháp; ngoài ra còn có các thiết chế độc lập khác cũng góp phần tạo nên hệ thống bộ máy nhà nước.
Lập pháp, hành pháp và tư pháp là ba phạm vi quyền lực thống nhất trong nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Viện kiểm sát nhân dân là một bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nước ta, tổ chức và hoạt động cũng chi phối bởi các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Viện kiểm sát nhân dân là một trong bốn hệ thống cơ quan do Quốc hội bầu ra, là một thiết chế đặc thù trong tổ chức bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa. Kể từ khi thành lập đến nay, Viện kiểm sát nhân dân luôn khẳng định được vị trí của mình trong bộ máy nhà nước ta.
Ngay từ những ngày đầu thành lập nước đến Hiến pháp năm 1959, mặc dù tổ chức của Viện kiểm sát vẫn tồn tại trong hệ thống tòa án nên chưa hình thành một hệ thống Viện kiểm sát nhân dân độc lập như ngày nay, song về hoạt động luôn thể hiện tính độc lập. Sau khi hệ thống Viện công tố chuyển thành hệ thống Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp năm 1959 đến nay, vị trí của Viện kiểm sát nhân dân không hề thay đổi và luôn khẳng định vị trí độc lập trong bộ máy nhà nước, thống nhất từ trung ương đến địa phương. Tính thống nhất của nó được thể hiện ở chỗ: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
9 z Tính đ ộc lâ ̣p của nó thể hiện ở chỗ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao người đứng đầ u hệ thố ng thố ng nhấ t đó chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quố c hội ; trong thời gian Quố c hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban Th ường vụ Quố c hội và Chủ tịch nước. Chế độ báo cáo công tác của các Viện trưởng các Viện kiểm sát khác do luật định. Theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân hiện hành thì ở các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân và trả lời chấ t vấ n của đại biể u Hội đồng nhân dân. Với vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước thì Viện kiểm sát là một trong những cơ quan thể hiện trực tiếp bản chất của Nhà nước ta, là một bộ phận quan trọng và không thể thiếu trong bộ máy Nhà nước.
Về chức năng của Viện kiểm sát: Hiến pháp quy định Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. - Chức năng thực hành quyền công tố: Trên thế giới, “quyền công tố” đã xuất hiện từ thời kỳ xa xưa của xã hội loài người. Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất của Nhà nước, là một bộ phận cấu thành và không thể tách rời khỏi công quyền. Quyền công tố có trong tất cả các kiểu Nhà nước; nó ra đời, tồn tại và mất đi cùng với Nhà nước và pháp luật.
Khi mới có Nhà nước, quyền công tố chỉ giới hạn trong phạm vi rất hẹp để bảo vệ các lợi ích của giai cấp thống trị. Cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức về lợi ích công và lợi ích tư, về trách nhiệm của Nhà nước đối với xã hội và cá nhân ngày càng có những thay đổi: Lợi ích cá nhân liên quan đến lợi ích công, tác động qua lại với nhau; chính vì vậy, cần có sự can thiệp của Nhà nước vào đời sống của cá nhân. Từ đó, vai trò công tố càng được đề cao trong xã hội. Tại Việt Nam, khoa học Luật tố tụng hình sự nói riêng cũng như khoa 10 z học pháp lý nói chung, chế định “quyền công tố” chưa được nghiên cứu một cách toàn diện; chính vì vậy, chưa có khái niệm chính thống về quyền công tố.
Mặc dù vậy, quyền công tố là một quyền năng quan trọng đã được Viện công tố thực hiện ở nước ta từ năm 1945; từ 1960 đến nay do Viện kiểm sát nhân dân thực hiện. Theo từ điển tiếng Việt, công tố có nghĩa là “điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Toà án” [53, tr. Từ điển luật học lại ghi: Công tố "là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội" [3, tr. Thuật ngữ "quyền công tố" lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980; sau đó tại Hiến pháp năm 1992, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1998, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân các năm 1981 năm 1992, năm 2002 và Pháp lệnh kiểm sát viên năm 2002.
Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào của Nhà nước giải thích chính thức nội dung quyền công tố. Có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung, lĩnh vực cũng như phạm vi chủ thể tham gia thực hành quyền công tố. Nhưng về nội dung và phạm vi thực hành quyền công tố (những yếu tố cấu thành quyền công tố) là những yếu tố không thể thay đổi ở bất kỳ quốc gia nào. Có thể hiểu: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan Viện kiểm sát) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà [46]. Về khái niệm thực hành quyền công tố hiện nay cũng có nhiều quan 11 z điểm khác nhau, chẳng hạn: Có quan điểm đã đồng nhất quyền công tố với thực hành quyền công tố trên các phương diện về đối tượng, nội dung, phạm vi.
Quan điểm khác lại gắn việc thực hành quyền công tố với việc thực hiện những nhiệm vụ khác của Công tố viên trong tố tụng hình sự. Có quan điểm mở rộng phạm vi quyền công tố được thực hiện trong một giai đoạn tố tụng hình sự bao gồm cả điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Từ điển Luật học giải thích: "Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử". Trên cơ sở các quan niệm khác nhau về thực hành quyền công tố nêu trên, theo tôi, để làm rõ hơn khái niệm thực hành quyền công tố cần xuất phát từ những quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố mà pháp luật đã trao cho Viện kiểm sát; quyền năng pháp lý này được thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với người phạm tội.
Pháp luật quy định một loạt những nhiệm vụ, quyền hạn nhằm xác lập cho Viện kiểm sát các quyền năng pháp lý cần thiết để thực hiện chức năng của mình trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử kẻ phạm tội, như khởi tố vụ án, bị can; yêu cầu điều tra hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra; quyết định truy tố bị can; đọc cáo trạng; luận tội đối với bị cáo; tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác; kiểm sát xét xử; kháng nghị… [40, Điều 13-19]. Việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân như nêu trên nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với kẻ phạm tội gọi là thực hành quyền công tố.