Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Khái niệm và thẩm quyền Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân 1. Khái niệm Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân Với chủ trương xây dựng nền công tố mạnh, tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắn công tố với hoạt động điều tra; Viện kiểm sát nhân dân ngày càng có vai trò quan trọng, quyết định trong việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội bằng nhiều biện pháp như: Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự và trực tiếp điều tra một số loại tội phạm, trong đó, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao là một trong những bảo đảm để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát, chống oan sai, chống bỏ lọt tội phạm, góp phần bảo vệ trật tự pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Có thể nói, hoạt động điều tra là một quyền năng quan trọng và được ví như “quyền công tố nối dài” của Viện kiểm sát; không thể bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nếu không có hoạt động điều tra trực tiếp.
Trước yêu cầu của cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế và đấu tranh phòng, chống các tội phạm nói chung và tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp nói riêng thì Cơ quan điều tra VKSND tối cao ngày càng phải được củng cố, tăng cường để bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát và đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Qua tìm hiểu các tài liệu khoa học pháp lý, nhất là các giáo trình giảng dạy trong các trường đại học chuyên ngành Luật đều không đưa ra khái niệm về Cơ quan điều tra một cách độc lập, chủ yếu định nghĩa, khái niệm về Cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Cơ quan điều tra. Để tìm hiểu và đưa ra khái niệm về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân, trước hết phải xuất phát từ khái niệm chung về Cơ quan điều tra trong hoạt động tố tụng hình sự. Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam – Nhà xuất bản giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội, thì: 7 Luan van Cơ quan tiến hành tố tụng là những cơ quan nhà nước có thẩm quyền được giao thực hiện chức năng tố tụng trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án nhằm giải quyết vụ án khách quan, công bằng, bảo đảm và tôn trọng quyền con người, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, mọi hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa trên cơ sở và trong phạm vi của pháp luật tố tụng hình sự.
Theo khái niệm này thì Cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra. Tuy nhiên, cũng không có khái khái niệm riêng biệt về từng cơ quan tiến hành tố tụng trong đó có Cơ quan điều tra mà chỉ tập trung làm rõ về cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động điều tra, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân là một trong hệ thống của Cơ quan điều tra nói chung nhưng có đối tượng điều tra (thẩm quyền và phạm vi thẩm quyền) riêng biệt so với các Cơ quan điều tra khác và trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Dựa trên các quy định của pháp luật hiện hành có thể khái quát mang tính quy nạp về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân như sau: Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân là một trong hệ thống Cơ quan điều tra của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, được tiến hành các hoạt động điều tra theo qui định của pháp luật nhằm thu thập, kiểm tra và đánh giá các chứng cứ chứng minh sự kiện phạm tội đối với các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.
Thẩm quyền của Cơ quan điều tra viện kiểm sát nhân dân tối cao Theo quy định tại Điều 20 Luật tổ chức VKSND năm 2014, Khoản 3 Điều 163 BLTTHS và Điều 30 Luật tổ chức CQĐTHS năm 2015 quy định thẩm quyền của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân như sau: Cơ quan điều tra VKSND tối cao điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp 8 Luan van mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc CQĐT, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp Theo quy định của các đạo luật mới, thì thẩm quyền của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao tăng thêm trên các phương diện sau: Thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao được mở rộng hơn về loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 30 Luật Tổ chức CQĐTHS năm 2015 và khoản 3 Điều 163 BLTTHS năm 2015 quy định: CQĐT VKSND tối cao có thẩm quyền điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của BLHS xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc CQĐT, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp. Như vậy, CQĐT VKSND tối cao có thẩm quyền điều tra đối với tất cả các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (gồm 24 tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định tại Chương XXIV BLHS năm 2015, 14 tội về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp quy định tại Chương XXIII BLHS năm 2015). Theo quy định mới của pháp luật thì thẩm quyền điều tra của CQĐT VKSND tối cao đã được mở rộng hơn, nhất là về loại tội và chủ thể của tội phạm.
Trong đó, thẩm quyền điều tra về các tội tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp là thẩm quyền mới được bổ sung trong BLTTHS năm 2015; Luật tổ chức CQĐTHS năm 2015. Mặc dù BLTTHS năm 2015 đã quy định CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao được điều tra tất cả các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, tham nhũng, chức vụ nhưng không phải bất cứ tội phạm nào được quy định tại Chương XXIII, Chương XXIV cũng thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao mà chỉ các tội phạm thỏa mãn đầy đủ ba yếu tố sau đây: - Được quy định tại Chương XXIII, Chương XXIV của BLHS năm 2015. - Người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc CQĐT, Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp như: người bào chữa, người giám định, người dịch thuật, người định giá tài sản, luật sư; những 9 Luan van người trong các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại khoản 2 Điều 35 BLTTHS năm 2015; người của Công an xã, phường, thị trấn, trạm Công an, đồn Công an khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm theo quy định tại khoản 3 Điều 146 BLTTHS năm 2015. - Hành vi phạm tội phải xuất phát từ hoạt động tư pháp trong quá trình thực thi công vụ của các chủ thể nói trên.
Theo đó, những tội phạm tuy được quy định tại Chương XXIII, Chương XXIV nhưng không do cán bộ, công chức thuộc CQĐT, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp thực hiện thì không thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với chủ thể phạm tội (Đối tượng điều tra tăng thêm) Theo quy định tại Khoản 2 Điều 110 BLTTHS năm 2003, khoản 2 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2002, Điều 18 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004, CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao, chỉ có thẩm quyền tiến hành điều tra đối với chủ thể phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp (Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án). Theo quy định tại Điều 20 Luật tổ chức VKSND năm 2014, Khoản 2 Điều 30 Luật Tổ chức CQĐTHS năm 2015 và khoản 3 Điều 163 BLTTHS năm 2015 quy định: CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền điều tra đối với chủ thể phạm tội là cán bộ, công chức thuộc CQĐT, TA, Viện kiểm sát, cơ quan THA, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp, khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân. Như vậy, so với quy định của pháp luật trước đây, thì chủ thể phạm tội thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao được tăng thêm rất nhiều.
Ngoài chủ thể phạm tội là cán bộ, công chức thuộc CQĐT, Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan THA, thì CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao còn có thẩm quyền tiến hành điều tra đối với chủ thể là người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp. Theo quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2014, Luật tổ chức CQĐTHS 10 Luan van năm 2015, BLTTHS năm 2015, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Luật thi hành án hình sự, Luật thi hành án dân sự, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam, thì thẩm quyền điều tra của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với chủ thể phạm tội được xác định đối với những những nhóm chủ thể sau đây: Phạm vi và địa bàn điều tra được mở rộng hơn Trước đây phạm vi và địa bàn điều tra thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT VKSND tối cao thường chỉ diễn ra ở cấp trung ương, cấp tỉnh, huyện.