Luận án tiến sĩ thực trạng nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ từ 1849 tuổi có chồng một số yếu tố liên quan và kết quả can thiệp cộng đồng tại thành phố cần thơ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ 18-49 tuổi, yếu tố liên quan và hiệu quả can thiệp cộng đồng tại Cần Thơ.

Trường đại học

Đại học Y Dược Cần Thơ

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2022

157
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ 18 49 tuổi

Nhiễm trùng đường sinh dục dưới (NTĐSDD) là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Theo nghiên cứu, tỷ lệ mắc NTĐSDD ở phụ nữ từ 18-49 tuổi tại thành phố Cần Thơ dao động từ 40% đến 80%. Điều này cho thấy mức độ phổ biến của bệnh trong cộng đồng. Các triệu chứng thường gặp bao gồm khí hư bất thường, đau bụng dưới và ra máu âm đạo. Việc không phát hiện và điều trị kịp thời có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như vô sinh, viêm vùng chậu và tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/STI. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 50% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên toàn cầu bị ảnh hưởng bởi NTĐSDD. Điều này đặc biệt nghiêm trọng ở các nước đang phát triển, nơi mà điều kiện vệ sinh và chăm sóc sức khỏe còn hạn chế.

1.1. Các yếu tố liên quan đến nhiễm trùng

Nhiều yếu tố có thể dẫn đến NTĐSDD ở phụ nữ, bao gồm thói quen vệ sinh không đúng cách, thiếu kiến thức về sức khỏe sinh sản và các hành vi tình dục không an toàn. Các nghiên cứu cho thấy rằng phụ nữ có trình độ học vấn thấp và sống ở vùng nông thôn có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Ngoài ra, việc sử dụng kháng sinh không đúng cách cũng có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Các yếu tố xã hội như điều kiện sống, nguồn nước sinh hoạt không sạch cũng góp phần vào sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh. Việc nâng cao nhận thức và giáo dục về sức khỏe sinh sản là rất cần thiết để giảm thiểu tình trạng này.

II. Kiến thức và thực hành về phòng chống nhiễm trùng

Kiến thức và thực hành của phụ nữ về phòng, chống NTĐSDD là yếu tố quan trọng trong việc giảm tỷ lệ mắc bệnh. Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều phụ nữ chưa có kiến thức đầy đủ về nguyên nhân và cách phòng ngừa NTĐSDD. Tỷ lệ phụ nữ có kiến thức đúng về bệnh chỉ đạt khoảng 30%. Hầu hết phụ nữ không thực hiện các biện pháp vệ sinh đúng cách, như vệ sinh sinh dục trước và sau khi quan hệ tình dục. Việc thiếu thông tin và giáo dục về sức khỏe sinh sản dẫn đến những hành vi không an toàn, làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Cần có các chương trình giáo dục sức khỏe cộng đồng để nâng cao nhận thức và thực hành của phụ nữ trong việc phòng ngừa NTĐSDD.

2.1. Giáo dục sức khỏe cộng đồng

Giáo dục sức khỏe cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao kiến thức và thực hành của phụ nữ về NTĐSDD. Các chương trình can thiệp cộng đồng cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của từng nhóm đối tượng. Việc tổ chức các buổi hội thảo, phát tờ rơi và sử dụng các phương tiện truyền thông để truyền tải thông tin về NTĐSDD sẽ giúp phụ nữ hiểu rõ hơn về bệnh và cách phòng ngừa. Ngoài ra, việc kết hợp với các cơ sở y tế để cung cấp dịch vụ khám và điều trị kịp thời cũng là một giải pháp hiệu quả.

III. Kết quả can thiệp cộng đồng

Kết quả của các chương trình can thiệp cộng đồng cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong nhận thức và thực hành của phụ nữ về NTĐSDD. Sau khi tham gia các hoạt động giáo dục sức khỏe, tỷ lệ phụ nữ có kiến thức đúng về bệnh tăng lên 60%. Đồng thời, tỷ lệ thực hành vệ sinh đúng cách cũng được cải thiện đáng kể. Các biện pháp can thiệp như tổ chức khám sức khỏe định kỳ và cung cấp thông tin về NTĐSDD đã giúp phát hiện sớm và điều trị kịp thời cho nhiều trường hợp mắc bệnh. Điều này không chỉ giảm tỷ lệ mắc bệnh mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho phụ nữ trong cộng đồng.

3.1. Đánh giá hiệu quả can thiệp

Đánh giá hiệu quả của các chương trình can thiệp cho thấy rằng việc kết hợp giữa giáo dục sức khỏe và dịch vụ y tế là rất cần thiết. Các chương trình này không chỉ giúp nâng cao kiến thức mà còn tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản. Kết quả cho thấy tỷ lệ tái mắc NTĐSDD giảm đáng kể sau 12 tháng can thiệp. Điều này chứng tỏ rằng các biện pháp can thiệp cộng đồng có thể mang lại hiệu quả tích cực trong việc phòng ngừa và kiểm soát NTĐSDD ở phụ nữ.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ thực trạng nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ từ 1849 tuổi có chồng một số yếu tố liên quan và kết quả can thiệp cộng đồng tại thành phố cần thơ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ 1. Định nghĩa Nhiễm trùng là sự xâm nhập của các vi sinh vật gây bệnh vào cơ thể sinh vật, sự xâm nhập này có thể dẫn tới sự xuất hiện hoặc không xuất hiện bệnh nhiễm trùng. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), nhiễm trùng đường sinh dục là các viêm nhiễm xảy ra tại cơ quan sinh dục, bao gồm cả nhiễm trùng do các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) và nhiễm trùng khác ở cơ quan sinh dục [108].

Nhiễm trùng đường sinh dục dưới (NTĐSDD) là nhiễm trùng xảy ra ở âm hộ, âm đạo và phần dưới cổ tử cung riêng rẽ hoặc phối hợp [108]. Phụ nữ ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc NTĐSDD, thường gặp nhất ở lứa tuổi từ 15 đến 45 [70]. Đặc điểm lâm sàng của nhiễm trùng đường sinh dục dưới Nhiễm trùng đường sinh dục dưới thường gặp nhất ở phụ nữ sau sẩy thai và sau sinh, bệnh cũng có thể xảy ra ngoài thời kỳ này do các nguyên nhân khác. Bệnh được gây nên do nhiều tác nhân và biểu hiện lâm sàng có thể khác nhau tùy theo loại tác nhân gây bệnh [87].

Viêm đường sinh dục thường biểu hiện bằng một hội chứng gồm 03 triệu chứng chính là khí hư, ra máu bất thường ở âm đạo và đau vùng bụng dưới. Trong đó, ra khí hư là triệu chứng phổ biến nhất của viêm đường sinh dục dưới [100]. Tùy theo từng tác nhân gây bệnh mà khí hư sẽ có tính chất, màu sắc khác nhau và kèm theo một số triệu chứng khác, như: - Khí hư giống như mủ: thường do nhiễm các tạp khuẩn gây nên. - Khí hư lẫn máu: thường do các tổn thương loét, trợt tại thành âm đạo, cổ tử cung (CTC), polyp tử cung, ung thư cổ tử cung và âm đạo [110].

Cơ chế sinh bệnh của nhiễm trùng đường sinh dục dưới Các biểu hiện bệnh lý NTĐSDD thường xảy ra khi: môi trường acid ở âm đạo bị thay đổi trở nên kiềm hóa; có sự thay đổi hoặc tổn thương lớp biểu mô dày của âm đạo; mất sự khép kín của âm đạo; sự suy giảm tiết dịch sinh lý sinh dục. Ngoài ra, còn có thể do lây nhiễm vi khuẩn trực tiếp từ các can thiệp thủ thuật y tế không đảm bảo vô khuẩn, hoặc do hành vi cá nhân của con người không đúng gây nên, như: quan hệ tình dục (QHTD) không an toàn, vệ sinh sinh dục không đúng, dùng kháng sinh bừa bãi,… Các yếu tố này có thể làm phá vỡ các cơ chế bảo vệ niêm mạc đường sinh dục dưới hoặc trực tiếp gây tổn thương niêm mạc, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm trùng, viêm đường sinh dục xảy ra [11]. Tác nhân gây nhiễm trùng đường sinh dục dưới thường gặp Nhiễm trùng đường sinh dục dưới có thể do vi khuẩn, vi rút, nấm, ký sinh trùng,… gây nên. Qua các biểu hiện lâm sàng, có thể gợi ý được tác nhân gây bệnh, như các tổn thương viêm đặc hiệu ở âm đạo, có thể gợi ý nhiễm trùng là do nấm hay do Trichomonas.

Ngược lại, tổn thương không đặc hiệu ở âm đạo thường do Gardnerella vaginalis, liên cầu tan huyết nhóm B, D hay trực khuẩn gây nên [17]. Tác nhân thường gặp của viêm âm hộ, âm đạo là do nấm Candida sp., Trichomonas vaginalis và Gardnerella vaginalis, còn viêm cổ tử cung thường do Chlamydia trachomatis và lậu cầu. Vi rút gây bệnh u nhú ở người HPV (Human papilloma virus) thường gây viêm ở âm hộ, âm đạo, tầng sinh môn, cổ tử cung. Trong các tác nhân gây bệnh kể trên, nấm Candida sp.

là nguyên nhân gây viêm âm đạo, đứng thứ hai sau viêm âm đạo do vi khuẩn [2], [17], [50]. Các nhiễm trùng đường sinh dục dưới được lây truyền chủ yếu thông qua các phương pháp quan hệ tình dục không an toàn. Các tác nhân gây bệnh lây truyền theo phương thức này được kể đến là Neisseria gonorrhoeae, 5 Chlamydia trachomatis, Treponema pallidum, Herpes simplex virus (HSV), Human papilloma virus (HPV), Trichomonas vaginalis,…[12] hoặc lây truyền do thói quen vệ sinh cá nhân không tốt, các tác nhân lây truyền bệnh theo kiểu này thường là: Candida albicans, Gardnerella vaginalis,…. Sự lây truyền NTĐSDD còn do nhiều yếu tố sinh học và các hành vi khác [17], [113].

Phân loại các nhiễm trùng đường sinh dục dưới Nhiễm trùng đường sinh dục dưới gồm 03 loại [111]: - NTĐSDD do các bệnh lây truyền qua đường tình dục: Các bệnh thường gặp là bệnh Lậu, Trùng roi sinh dục, Chlamydia trachomatis, Giang mai, Hạ cam, Herpes sinh dục, Sùi mào gà sinh dục, các di chứng mắc sùi mào gà và hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do nhiễm HIV. - Nhiễm trùng đường sinh dục dưới do nguyên nhân nội sinh: bệnh xảy ra là do sự mất cân bằng giữa hệ vi khuẩn gây bệnh và các vi khuẩn thường trú của đường sinh dục, dẫn đến sự phát triển quá mức của các vi sinh vật gây bệnh có sẵn trong đường sinh dục của phụ nữ, thường gặp là viêm âm đạo do vi khuẩn và viêm âm hộ - âm đạo do nấm men. - Nhiễm trùng đường sinh dục dưới do lây nhiễm vi khuẩn từ các thủ thuật y tế không vô khuẩn, như: nhiễm trùng sinh dục sau sẩy thai, sinh đẻ, nạo hút thai không an toàn. Khám, phát hiện nhiễm trùng đường sinh dục dưới Việc khám phát hiện sớm và điều trị hiệu quả sẽ làm giảm sự lây truyền bệnh trong cộng đồng; thực hiện các thủ thuật y tế an toàn, đảm bảo vô trùng phù hợp tại các phòng khám sẽ làm giảm NTĐSDD do nhiễm khuẩn y sinh.

Theo Julie van Schalkwyk (2015), NTĐSDD có thể được chẩn đoán bằng lâm sàng hoặc xét nghiệm vi sinh [97]. Trong quá trình chẩn đoán, các đối tượng mắc NTĐSDD qua khám lâm sàng nên được lấy dịch âm đạo để xét nghiệm xác định nguyên nhân, nhất là trong các trường hợp điều trị kéo dài 6 mà không khỏi. Hiện tại, theo Tiêu chí quốc gia, các Trạm y tế phường, xã đều có phòng xét nghiệm và trang bị kính hiển vi nên nếu được đào tạo, tập huấn thì hoàn toàn có thể tự thực hiện được. Chẩn đoán một số tác nhân gây NTĐSDD thường gặp Triệu Nấm Trichomonas Gardnerella Chlamydia Lậu cầu chứng Candida vaginalis vaginalis trachomatis Ngứa âm Ngứa rát âm Khó chịu, có 50-75% không 50% không Cơ đạo, đau rát.

hộ, âm đạo, mùi hôi sau triệu chứng, có có triệu năng giao hợp đau. thể ngứa âm chứng. đạo, tiểu khó. - Khí hư - Khí hư - Khí hư - 20% có lộ Khí hư nhiều, màu loãng, màu nhiều, lỏng, tuyến CTC, có nhiều, trắng đục vàng hay hơi màu xám thể có dịch tiết vàng, đặc như váng xanh, có nhiều trắng và có từ cổ tử cung, như mủ, sữa bám bọt nhỏ, số mùi rất hôi màu vàng mùi hôi.

Thực chặt vào lượng nhiều, tanh. hoặc xanh, số CTC phù thể thành âm mùi hôi. - Niêm mạc lượng không nề đỏ rực đạo. - Niêm mạc âm đạo nhiều.

dễ chảy - Có những âm đạo viêm thường không - Cổ tử cung máu, vết trợt. đỏ, có những có triệu đỏ, phù nề, thường kèm điểm lấm tấm chứng viêm chạm vào dễ với viêm đỏ sậm. Cận Nhuộm Soi tươi thấy Sniff text có Test nhanh Nhuộm lâm Gram hoặc trùng roi hình mùi cá thối; phát hiện Gram thấy sàng soi tươi quả mơ đang Nhuộm gram kháng nguyên. song cầu (XN thấy tế bào di động.

hoặc soi tươi Gram (-) khí hạt men, sợi thấy Clue cells; nội/ngoại tế hư) tơ nấm giả. Đối với Human papilloma virus (HPV), đây cũng là một tác nhân gây nhiễm trùng đường sinh dục dưới quan trọng và có khả năng gây ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, do ở thời điểm hiện tại chưa có thuốc để điều trị HPV và các kỹ thuật xét nghiệm tìm HPV cũng chưa phù hợp để thực hiện tại cộng đồng nên không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án. Dịch tễ học các loại nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ trên thế giới và tại Việt Nam 1.

Trên thế giới NTĐSDD là một vấn đề sức khỏe cộng đồng ở các nước đang phát triển. Người ta ước tính rằng mỗi ngày có gần một triệu người trên toàn cầu mắc NTĐSDD [98]; trong đó, nhóm 25-34 tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất [73]. Các nghiên cứu về dịch tễ học cho thấy, tỷ lệ mắc NTĐSDD ở phụ nữ rất khác nhau giữa các quốc gia, do sự khác biệt về đặc điểm của từng tác nhân gây bệnh, về đặc điểm sinh học của cá thể, hành vi lối sống, chăm sóc y tế, xã hội và kinh tế. Tỷ lệ mắc NTĐSDD ở một số nước trên thế giới ST Năm Tỷ lệ Tác giả Quốc gia T nghiên cứu NTĐSDD 1 Ahmadnia [54] Iran 2013 20,1% 2 Suzanna C Francis [77] Tanzania 2018 33,0% 3 Maha Abdul-Aziz [52] Yemen 2019 37,6% 4 Pravina Kafle [81] Nepal 2016 39,9% 5 Dai Zhang [114] Trung Quốc 2017 47,0% 6 Belen Torondel [104] Ấn Độ 2018 62,4% 7 Mohamed Diadhiou [74] Senegal 2019 69,6% 8 Tại một số nước, tỷ lệ NTĐSDD ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản là khá cao.

Ở Iran, nghiên cứu cắt ngang trên 4.274 phụ nữ đã kết hôn ở tỉnh Zanjan từ năm 2012-2013, cho kết quả 20,1% phụ nữ bị nhiễm trùng đường sinh dục dưới [54]. Một nghiên cứu tại Mwanza (Tanzania) năm 2018, tỷ lệ nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ được ghi nhận là 33% [77]. Tỷ lệ NTĐSDD ở phụ nữ tại thành phố Sana’a của Yemen, khảo sát năm 2019 là 37,6% [52]. Pravina Kafle thu thập dữ liệu ở phụ nữ đã kết hôn từ 15-49 tuổi tại Nepal, kết quả có 39,9% phụ nữ mắc NTĐSDD [81].

Tại Trung Quốc, Dai Zhang (2017) thực hiện điều tra dịch tễ về NTĐSDD ở 1.218 phụ nữ, kết quả phát hiện 47% phụ nữ có nhiễm trùng đường sinh dục dưới [114]. Đáng chú ý là nghiên cứu của Belen Torondel tại bệnh viện Odisha, Ấn Độ, kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm khá cao (62,4%) [104]; tương tự, kết quả nghiên cứu của Mohamed Diadhiou ở Senegal (2019) trên 276 phụ nữ, với tỷ lệ NTĐSDD là 69,6% [74]. Về các triệu chứng và tác nhân gây bệnh cũng tương đối khác nhau ở phụ nữ mắc bệnh các nơi trên thế giới. Một nghiên cứu ở Ghana năm 2015, tỷ lệ nhiễm trùng âm đạo là 56,4% [82].

Tại Senegal (2015), một nghiên cứu trên 276 phụ nữ đã kết hôn, tỷ lệ nhiễm trùng phổ biến nhất là viêm âm đạo do vi khuẩn (39,5%), nấm Candida âm đạo (29%) và Trichomonas với tỷ lệ 2,5%. Trong số các vi sinh gây viêm nhiễm, Ureaplasma urealyticum là thường xuyên nhất (27,5%), tiếp theo là Mycoplasma hominis (14,5%), Chlamydia trachomatis (4,7%) và Neisseria gonorrhoeae (1,1%) [74].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nhiễm Trùng Đường Sinh Dục Dưới Ở Phụ Nữ 18-49 Tuổi: Thực Trạng, Yếu Tố Liên Quan Và Can Thiệp Cộng Đồng Tại Cần Thơ là một nghiên cứu quan trọng tập trung vào tình trạng nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản tại Cần Thơ. Tài liệu này không chỉ phân tích thực trạng mà còn chỉ ra các yếu tố liên quan như vệ sinh cá nhân, kiến thức về sức khỏe sinh sản, và môi trường sống. Đặc biệt, nghiên cứu đề xuất các biện pháp can thiệp cộng đồng hiệu quả nhằm giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh, cải thiện chất lượng cuộc sống cho phụ nữ.

Để mở rộng hiểu biết về các vấn đề sức khỏe phụ nữ, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu tỷ lệ mắc mới ung thư vú ở phụ nữ hà nội, Luận án tiến sĩ thực trạng trầm cảm và hành vi tìm kiếm hỗ trợ ở phụ nữ mang thai sau sinh tại huyện đông anh hà nội, và Luận án tiến sĩ nghiên cứu tình hình đái tháo đường thai kỳ và mối liên quan của bệnh với adiponectin leptin huyết thanh. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn sâu sắc về các vấn đề sức khỏe phụ nữ, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn.