Chương 1 Chương này trình bày khái quát các nghiên cứu có liên quan đến việc tuân thủ thuế của người nộp thuế đã được thực hiện trên Thế giới và Việt Nam, các nghiên cứu này được thực hiện ở các quốc gia khác nhau và ở mỗi địa phương khác nhau nên đối tượng và các nhân tố tác động cũng khác nhau hoàn toàn. Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện ở tỉnh Sóc Trăng cũng là một khía cạnh mới về đối tượng và các nhân tố tác động đến tuân thủ thuế và để có cái nhìn tổng quan hơn. Chương tiếp theo sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết liên quan đến việc tuân thủ thuế của người nộp thuế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
TUÂN THỦ THUẾ 2. Khái niệm tuân thủ thuế Theo Jackson và Milliro (1986), Alm (1991) cho rằng tuân thủ thuế là báo cáo tất cả thu nhập, thanh toán toàn bộ nghĩa vụ thuế bằng cách thực hiện các điều khoản quy định của luật, pháp lệnh, hoặc phán quyết của toà án. Trong khi Hamm (1995) thì tuân thủ thuế được định nghĩa là người nộp thuế nộp tờ khai thuế vào thời điểm thích hợp và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế theo quy định của các luật thuế, các quyết định của toà án. Theo James và Alley (1999), “Tuân thủ thuế theo cách hiểu đơn giản nhất là mức độ người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế”.
Theo Andreoni, Erard và Feinstein (1998) nhấn mạnh tuân thủ thuế nên được định nghĩa là sự sẵn lòng của người nộp thuế tuân thủ theo pháp luật về thuế để đạt được trạng thái cân bằng kinh tế của một đất nước. Theo Kirchler (2007) đưa ra một định nghĩa đơn giản hơn, tuân thủ thuế là một thuật ngữ trung lập nhất miêu tả việc người nộp thuế sẵn sàng nộp tiền thuế. Theo Song và Yarbrough (1987) cho rằng do khía cạnh hoạt động đáng chú ý của hệ thống thuế Hoa Kỳ là người nộp thuế tự xác định nghĩa vụ thuế và tự nguyện nên tuân thủ thuế được định nghĩa là khả năng của người nộp thuế và sự sẵn lòng tuân thủ luật thuế được xác định bởi vấn đề đạo đức, môi trường pháp lý, và các yếu tố tình huống khác tại từng thời gian và địa điểm cụ thể. Đồng thuận với quan điểm này, một số cơ quan thuế cũng xem tuân thủ thuế là khả năng và sự sẵn lòng của đối tượng nộp thuế thực hiện theo quy định của pháp luật thuế; kê khai thu nhập chính xác mỗi năm và thanh toán đủ số tiền thuế đúng thời gian quy định (IRS, 2009; ATO, 2009).
Theo Singh (2003) cho rằng tuân thủ thuế là hành động của một người nộp tờ khai thuế, công khai chính xác tất cả các khoản thu nhập chịu thuế và thanh toán tất cả các khoản thuế phải nộp trong thời hạn quy định mà không phải chờ đợi hành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 động của cơ quan thuế. Trên cơ sở đó, tuân thủ thuế được tách biệt thành 2 quan điểm: tuân thủ quan điểm về quản lý hành chính và tuân thủ theo quan điểm hoàn thành chính xác tờ khai thuế. Tuân thủ theo quan điểm quản lý hành chính bao gồm đăng ký và thông báo với cơ quan thuế tình trạng của người nộp thuế, nộp tờ khai thuế mỗi năm (nếu cần) và tuân thủ khuôn khổ về thời gian thanh toán theo yêu cầu (Chow 2004 và Harris 1989). Nghĩa là, tuân thủ thuế đòi hỏi người nộp thuế phải đạt được một mức độ trung thực nhất định, có kiến thức thuế đầy đủ và khả năng sử dụng kiến thức này để hoàn thành tờ khai thuế và các hồ sơ có liên quan kịp thời, chính xác và đày đủ (Singh và Bhupalan, 2001).
Cùng quan điểm với Singh và Bhupalan, Somasundram (2003) cho rằng tuân thủ thuế trở thành một vấn đề chủ yếu trong hệ thống tự khai thuế bởi vì tổng số tiền thuế phải nộp phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tuân thủ của người nộp thuế mặc dù không thể tránh khỏi việc cơ quan thuế sẽ tìm kiếm thông tin từ những người nộp thuế khác trong khu vực để giảm thiểu rủi ro xảy ra các trường hợp không tuân thủ, hoặc họ sẽ thường xuyên thực hiện việc kiểm tra nhiều loại thuế khác nhau, và bằng những hình thức khác chẳng hạn giáo dục kiến thức thuế nhằm tạo ra những tác động nhất định đến việc tuân thủ thuế của người nộp thuế. Ngoài ra, một số tác giả khác đã xem xét tuân thủ thuế từ một góc độ khác. Allingham và Sandmo (1972) mô tả tuân thủ thuế là một vấn đề “báo cáo thu nhập thực tế” và cũng cho rằng hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế bị ảnh hưởng bởi một số tình huống mà trong đó có thể người nộp thuế đưa ra quyết định trong tình trạng không chắc chắn (Clotfelter, 1983). Tức là người nộp thuế có thể sẽ được hưởng một khoản tiền thuế tiết kiệm được do khai báo thấp thu nhập tính thuế hoặc đối với các khoản thu nhập không khai báo, họ sẽ bị phạt với một tỷ lệ cao hơn so với khoản thu nhập được kê khai đầy đủ và chính xác về thời gian.
McBarnet (2001) đề nghị tuân thủ thuế nên được nhìn nhận trong 3 cách, cụ thể là: cam kết tuân thủ - sẵn sàng nộp thuế mà không khiếu nại; tuân thủ có điều kiện - miễn cưỡng nộp tờ khai và nộp thuế; tuân thủ có sáng tạo để giảm thiểu nghĩa vụ thuế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 bằng cách tận dụng khả năng để xác định lại thu nhập và khấu trừ các khoản chi phí theo quy định của luật thuế. Theo Spice và Lundstedt (1976) nhận thức mức độ tuân thủ thuế là một hình thức đặc biệt của sự may rủi (trong đó có liên quan đến khả năng phát hiện và xử phạt), đòi hỏi CQT phải hiểu được các yếu tố tác động đến quyết định tuân thủ thuế của người nộp thuế. Theo Allingham và Sandmo (1972), Spicer và Lundstedt (1976), Lewis (1982) và Andreoni, Erard va Feinstein (1998) mô tả các đặc điểm và giải thích tuân thủ thuế là kết quả của tương quan giữa các biến bao gồm nhận thức về sự công bằng, hiệu quả và sự tương tác giữa chúng. Các khía cạnh khác thi hành thuế chẳng hạn như hình phạt và khả năng phát hiện cũng ảnh hưởng đến tuân thủ thuế trong khi các yếu tố khác về hành vi của thị trường lao động như tiền lương của một cá nhân và biểu thuế cũng góp phần vào tuân thủ thuế (Kirchler, 2007).
Hệ thống thuế hiệu quả cũng ít công bằng hơn khi xảy ra trường hợp những người giàu trốn tránh một phần thuế lớn hơn so với người nghèo (Andreoni và cộng sự, 1998). Bất kỳ nỗ lực không tuân thủ thuế nào đều ảnh hưởng đến hiệu quả thuế và chi phí tuân thủ. Các khoản thu nhập không được báo cáo sẽ bóp méo số thu thuế (Andreoni và cộng sự, 1998; Lewis, 1982). Theo Uỷ ban các vấn đề về thuế, OECD (2004), định nghĩa: “Tuân thủ thuế là phạm vi mà đối tượng nộp thuế phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế của mình.
Tại nhiều nước, đối tượng nộp thuế có 3 nghĩa vụ cơ bản: (1) nộp thờ khai thuế đúng hạn; (2) kê khai (báo cáo) chính xác trên tờ khai những thông tin cần thiết để xác định số tiền thuế; và (3) nộp nghĩa vụ thuế kịp thời. Các nghĩa vụ này thường được coi là tuân thủ về nộp tờ khai, tuân thủ về báo cáo (kê khai), và tuân thủ về thu nộp”. Nghiên cứu trong điều kiện Việt Nam, Nguyễn Thị Lệ Thuý (2009) đã đưa ra định nghĩa: “Sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo đúng mục đích của luật một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Tóm lại, tuân thủ thuế là một khái niệm rộng và có thể được xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm đặc điểm doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, về mặt xã hội, về mặt kinh tế, chính sách thuế và về yếu tố tâm lý.
Trong phạm vi đề tài này, tập trung khai thác thêm về cách tiếp cận khía cạnh về hành vi, về kinh tế và về xã hội. Mục đích của nghiên cứu này là tuân thủ thuế được đo lường qua việc đánh giá sự sẵn lòng của người nộp thuế, tự kê khai thuế và nộp thuế đúng quy định của luật thuế hiện hành. Hành vi không tuân thủ thuế Theo Uỷ ban các vấn đề về thuế, OECD (2004) viết: “Nghĩa vụ cụ thể của người nộp thuế có thể khác nhau về trách nghiệm thuế và giữa các cơ quan thuế khác nhau, nhưng có bốn loại nghĩa vụ mà người nộp thuế chắc chắn phải thực hiện dù ở bất kỳ nước nào”. Bốn nghĩa vụ của người nộp thuế là: (1) Đăng ký thuế; (2) Nộp tờ khai và nộp thông tin cần thiết liên quan đến thuế đúng thời hạn; (3) Báo cáo các thông tin đầy đủ và chính xác (kết hợp với thực hiện lưu giữ sổ sách) và (4) Nộp nghĩa vụ thuế đúng hạn.
Nếu người nộp thuế không thực hiện bất kỳ một trong bốn nghĩa vụ thì có thể coi là không tuân thủ thuế. Hành vi không tuân thủ cần phải xem xét 2 khía cạnh là: sự không tuân thủ không dự tính và sự không tuân thủ dự tính. Hành vi không tuân thủ không dự tính: Nhiều người nộp thuế sẵn lòng hợp tác tuân thủ toàn diện nhưng lại không thực hiện được vì họ không biết cách hoàn thành các tờ khai thuế chính xác hoặc không hiểu biết hết phạm vi nghĩa vụ thuế của họ hoặc họ hiểu sai luật. Hành vi không tuân thủ dự tính bao gồm tránh thuế (avoidance) và trốn thuế (evasion): Những hành vi này bao gồm việc tạo ra các giao dịch giả tạo để trốn thuế, tìm kiếm mọi kẽ hở hợp pháp để giảm thuế, dùng những thủ đoạn và chống chế ở mọi lúc để trì hoãn và để giảm số tiền phải nộp.
Nghiên cứu theo góc độ tâm lý hành vi, theo Kirchker, E, và cộng sự (2001), tác động của hành vi trốn thuế và tránh thuế đến tâm lý người nộp thuế là hoàn toàn khác nhau. Trốn thuế được đánh giá tiêu cực hơn tránh thuế. Kiến thức thuế của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 người nộp thuế càng tốt thì tránh thuế được nhận thức là công bằng hơn, và được lựa chọn nhiều hơn để hạn chế nghĩa vụ thuế phải nộp. Ngược lại, kiến thức về thuế càng hẹp thì người nộp thuế có xu hướng lựa chọn hình thức trốn thuế nhiều hơn.