Chương 1, tác giả chủ yếu trình bày về mục tiêu nghiên cứu chung của đề tài là: phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất hàm ý chính sách góp phần nâng cao tính tuân thủ thuế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ngoài ra, đề tài đã trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các lý thuyết nền tảng 2.1 Lý thuyết hành vi tuân thủ thuế Đối với mọi quốc gia trên toàn thế giới thì thuế là nguồn thu chủ yếu của các quốc gia này, ngoài ra, thuế còn là khoản đóng góp mang tính bắt buộc mà các tổ chức cũng như cá nhân phải có nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện đối với ngân sách Nhà nước.2 Lý thuyết hành vi không tuân thủ thuế Nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu của của mọi công dân và doanh nghiệp.
Theo OECD (2004) nghĩa vụ cụ thể của DNNT có thể khác nhau ở từng quốc gia, nhưng nhìn chung có 4 loại nghĩa vụ mà DNNT chắc chắn phải thực hiện dù ở bất kỳ nước nào đó là: (1) Đăng ký thuế, (2) Nộp tờ khai thuế, (3) Báo cáo các thông tin đầy đủ và chính xác, (4) Nộp thuế đúng hạn. Đối nghịch với tuân thủ thuế là hành động không tuân thủ thuế (OECD, 2004).3 Lý thuyết tâm lý hành vi phổ biến Lý thuyết tâm lý hành vi phổ biến là mô hình cổ điển được áp dụng trước khi được khái quát hoá thành lý thuyết mô hình tâm lý học hành vi phổ biến. Jackson và Valerie (1986) cho rằng, tâm lý hành vi phổ biến của con người là lựa chọn hành động khi đã hiểu biết lợi ích và hậu quả liên quan đến hành động đó. Khi áp dụng vào quản lý thuế, để đạt được sự tuân thủ cao từ người nộp thuế, cơ quan thuế cần tuần tự quản lý từ việc thuyết phục người nộp thuế đến trừng phạt với các hình thức từ nhẹ đến nặng (nhắc nhở bằng văn bản, phạt hành chính, phạt hình sự, cấm hoạt động tạm thời, cấm hoạt động vĩnh viễn).
Đặc điểm quan trọng của mô hình này là các biện pháp được thực hiện theo tuần tự từ thấp đến cao. Biện pháp cao hơn chỉ được thực hiện khi biện pháp trước đó đã được áp dụng thất bại. Do đó, mô hình này còn gọi là mô hình Thuyết phục và trừng phạt (James và Alley, 2009; Macsky, 2011).4 Lý thuyết răn đe hoặc mô hình răn đe kinh tế Các lý thuyết khác nhau đã được các nhà nghiên cứu đưa ra để giải thích các hành vi không tuân thủ, chẳng hạn như lý thuyết răn đe hoặc mô hình răn đe kinh tế. Mô hình Răn đe kinh tế đã được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu tuân thủ thuế.
Mô hình được rút ra dựa trên lý thuyết Tiện ích kỳ vọng (EUT) và lý thuyết răn đe. 6 Theo mô hình này, người nộp thuế được coi là những cá nhân hoàn toàn có đạo đức, không thích rủi ro, là những người tìm cách tối đa hóa lợi ích của họ và có thể trốn thuế bất cứ khi nào khi cảm thấy lợi nhuận dự kiến vượt quá chi phí (Milliron, 2016). Lý thuyết răn đe cho rằng, mọi người sẽ lựa chọn chấp hành hoặc vi phạm pháp luật sau khi tính toán lợi ích và hậu quả của các hành động của họ.5 Lý thuyết triển vọng Lý thuyết Triển vọng được Daniel Kahnerman và Amos Tversky đưa ra vào năm 1979 sau đó giành giải Nobel Kinh tế (2002). Lý thuyết Triển vọng cho rằng, hành vi của con người có 3 đặc điểm chính mà lý thuyết độ thỏa dụng kỳ vọng không thể giải thích được, đó là: (i) Lý thuyết này đưa ra luận điểm con người không thích rủi ro ở phần lãi và thích rủi ro ở phần lỗ.
Phần lãi hay phần lỗ không nhắm vào mức thu nhập, mà là sự thay đổi của mức thu nhập đó, ngoài ra hành vi của con người đôi lúc thể hiện sự không thích rủi ro (lẩn tránh rủi ro) song, đôi lúc lại ưa thích rủi ro (tìm kiếm rủi ro) và con người lựa chọn dựa trên lãi và lỗ; (ii) Con người đánh giá các khoản lãi và lỗ so với một mức tham khảo và thông thường mức tham khảo ứng với tình trạng hiện tại của người đó; (iii) Con người sợ thua lỗ bởi việc mất có tác động đến cảm xúc của họ mạnh hơn cái họ được.2 Các khái niệm liên quan đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Khái niệm thuế Theo Phan Thị Mỹ Dung và Lê Quốc Hiếu (2015), thuế là một thực thể pháp lý nhân định nhưng sự ra đời và tồn tại của nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí con người mà còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định.2 Khái niệm về tuân thủ thuế Theo Edward và cộng sự (2015), để tiếp cận khái niệm tuân thủ thuế, trước hết cần bắt đầu từ khái niệm tuân thủ. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa tuân thủ là “Giữ và làm đúng theo điều đã quy định”. Từ tuân thủ trong tiếng Anh là “compliance” được định nghĩa là “Conforming to a rule, such as a specification, policy, standard or law”. Nghĩa là “Làm theo một quy tắc, một nguyên tắc, một quy định, chẳng hạn như một quy định, một chính sách, một chuẩn mực hoặc một luật lệ”.3 Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là một phạm trù không chỉ phản ánh độ lớn của DN mà còn bao hàm nội dung tổng hợp về kinh tế, tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý, tiến bộ 7 khoa học và công nghệ.
DNNVV tồn tại và phát triển là tất yếu khách quan, phản ánh yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ, tính chất phát triển của lực lượng sản xuất.3 Phân loại, quy trình và các tiêu chí đánh giá tuân thủ thuế của doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Phân loại tuân thủ thuế Căn cứ vào mức độ tuân thủ thuế, ta có thể phân loại thành 2 dạng là: Tuân thủ tự nguyện và tuân thủ có kiểm soát. Tuân thủ tự nguyện: Xu hướng hiện nay của Chính phủ các nước là tạo điều kiện hỗ trợ cho các doanh nghiệp thực hiện việc nộp thuế tự nguyện. Việc tuân thủ nộp thuế tự nguyện của các doanh nghiệp sẽ giúp cho cơ quan quản lý thuế giảm bớt được việc kiểm tra, thẩm tra, nhắc nhở cũng như hạn chế được các biện pháp hành chính (Bộ Tài chính, 2013). Tuy nhiên việc tuân thủ nộp thuế tự nguyện có thể gây ra các sai sót do doanh nghiệp có thể không hiểu rõ hết các quy định của chính sách dẫn tới kê khai và nộp thuế không đầy đủ.
Tuân thủ có kiểm soát: Quan điểm truyền thống của quản lý thuế chủ yếu dựa trên giả thiết rằng hầu hết NNT về bản chất là không tự nguyện tuân thủ và chỉ chấp hành nghĩa vụ khi có sự cưỡng chế của các cơ quan thuế hay khi bị tác động bởi lợi ích kinh tế.2 Quy trình tuân thủ thuế của doanh nghiệp nhỏ và vừa Sự tuân thủ sẽ lớn hơn khi các cá nhân nhận thấy một số lợi ích từ hàng hóa công cộng được tài trợ bởi các khoản thanh toán thuế trong khi những thay đổi về mức phạt dường như ít ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế.2 Các tiêu chí định lượng Các chỉ tiêu đánh giá mức độ tuân thủ thuế theo từng khía cạnh cụ thể: Thứ nhất, các chỉ tiêu về tuân thủ trong việc đăng ký thuế. Mức độ tuân thủ thuế của NNT trong đăng ký thuế thể hiện ở việc NNT thực hiện kê khai đăng ký thuế đúng mẫu biểu, chính xác các chỉ tiêu, nộp hồ sơ đăng ký thuế cho cơ quan quản lý đúng thời hạn, đúng địa điểm. Do đó, chỉ tiêu định lượng để đánh giá tính tuân thủ trong hoạt động này có thể dựa trên tỷ lệ hoặc số lượng NNT chấp hành đầy đủ các yêu cầu nêu trên. Tuy nhiên, trong thực tế, các tiêu chí thường được sử dụng là tỷ lệ/số lượng NNT có hành vi không tuân thủ (Nguyễn Thị Lệ Thúy, 2009).4 Các yếu tố tác động đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Yếu tố ngành nghề kinh doanh Cũng theo OECD (2004), và các nghiên cứu khác về sự tuân thủ thuế trong điều kiện Việt Nam như Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) đã chứng minh rằng các nhân tố đặc trưng về ngành nghề của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp.
Nhân tố ngành nghề kinh doanh được đo lường bằng các tiêu chí: tỷ suất lợi nhuận; tính cạnh tranh; tính khó kiểm soát doanh thu; tính khó kiểm soát chi phí.2 Yếu tố kinh tế Theo Allingham và Sandmo (2017) cho rằng các ảnh hưởng chủ yếu về yếu tố kinh tế gồm các yếu tố như lãi suất ngân hàng, giai đoạn của chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ. Vì các yếu tố này tương đối rộng nên cần chọn lọc để nhận biết các tác động cụ thể ảnh hưởng trực tiếp nhất đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.3 Yếu tố xã hội Theo Gerbing (2016), yếu tố xã hội ảnh hưởng nhiều tới thói quen tiêu dùng, cách thức ứng xử, sở thích của người nộp thuế cũng như giúp tạo nên văn hóa bên trong của doanh nghiệp và ảnh hưởng tới cách thức doanh nghiệp cư xử, giao tiếp với bên ngoài, đặc biệt là hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp.4 Yếu tố chính sách thuế Sự phức tạp của chính sách thuế là yếu tố tác động đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp. Tính phức tạp của hệ thống thuế nói chung và chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng là một trong những yếu tố xã hội quyết định đến việc tuân thủ thuế (Hischer và Mark, 2014). Nếu luật thuế mơ hồ, không rõ ràng, cồng kềnh, rườm rà mang tính thủ tục, khó hiểu đó là những lý do khiến người nộp thuế dễ dẫn đến hành vi không tuân thủ.5 Yếu tố sự quản lý của cơ quan thuế Theo Lin và Valerie (2018), cơ quan thuế là hệ thống các cơ quan thực hiện quản lý Nhà nước về thuế, thuế là một khoản nộp ngân sách nhà nước bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế.
Thông qua hoạt động quản lý nợ thuế, cơ quan thuế đảm bảo tính hiệu lực, nghiêm minh của pháp luật thuế; hạn chế sự chiếm dụng tiền thuế, chống thất thoát thuế và đảm bảo sự công bằng giữa những người nộp thuế.