phần Mở đầu và Kết luận, nội dung Luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về tuân thủ thuế của doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thuế và thực trạng sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm nâng cao sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Nin 6 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TUÂN THỦ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý thuyết về thuế và sự tuân thủ thuế 1. Khái niệm về thuế Lịch sử xã hội loài ngƣời chứng minh rằng, thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình thành và phát triển của Nhà nƣớc. Để duy trì sự tồn tại đồng thời với việc thực hiện các chức năng của mình, Nhà nƣớc cần có nguồn vật chất.
để thực hiện những chi tiêu có tính chất xã hội. Bằng quyền lực chính trị, Nhà. nƣớc thu một bộ phận của cải xã hội để có đƣợc nguồn vật chất đó. Quan hệ thu.
nộp những nguồn vật chất này chính là thuế. Thu thuế đƣợc thực hiện bằng hình. thức thu bằng hiện vật chuyển dần sang thu dƣới hình thức giá trị. có nghĩa thuế xuất hiện ban đầu có hình thức biểu hiện rất đơn giản.
Quan hệ thu. phen, cống nạp là những loại thuế thể hiện dƣới hình thức hiện vật dần có sự. phức tạp hơn - hình thức sƣu, thuế đƣợc cắt đặt một cách thống nhất trong phạm vi. Đến khi tiền tệ ra đời, hình thức thuế thu bằng tiền làm giảm nhẹ sự nghiệt ngã của các hình thức cống nộp.
Thuế ra đời và phát triển cùng với nhà nƣớc, là công cụ chủ yếu để nhà nƣớc thu ngân sách. Do đó, bản chất và công dụng xã hội của thuế gắn với bản chất của nhà nƣớc. Thuế đƣợc thu dƣới hình thức hiện vật hoặc bằng tiền. Ngƣời có nghĩa.
vụ nộp thuế cho nhà nƣớc là tổ chức, cá nhân có các hoạt động sản xuất, kinh. doanh, có thu nhập hoặc tài sản đƣợc pháp luật xác định là đối tƣợng chịu thuế. nên quan hệ thu, nộp này không mang tính đối giá. Thuế là khoản nhà nƣớc thu.
đối với tổ chức, cá nhân, là tài sản thuộc sở hữu nhà nƣớc và nhà nƣớc không có. nghĩa vụ hoàn trả lại khoản tiền thuế này cho ngƣời nộp. Do thuế là nguồn thu. chủ yếu của ngân sách nhà nƣớc và việc thu thuế có ảnh hƣởng lớn đối với nền.
kinh tế và đời sống xã hội, nên ngày nay các quốc gia đều thực hiện nguyên tắc là. thuế do cơ quan quyền lực nhà nƣớc cao nhất (quốc hội, nghị viện) đặt ra hoặc bãi 7 bỏ. Ở một số nƣớc có sự tách biệt giữa ngân sách trung ƣơng với ngân sách của chính quyền địa phƣơng, thì chính quyền địa phƣơng cũng đƣợc quyền đặt ra hoặc bãi bỏ một số loại thuế áp dụng ở địa phƣơng trong khuôn khổ quy định của Hiến pháp. Để thuế thực sự là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nƣớc, là công cụ kích thích nền kinh tế phát triển, đảm bảo công bằng xã hội, bài viết này xin đề cập đến tầm quan trọng của thuế đối với Nhà nƣớc, xã hội, ngƣời dân và hƣớng hoàn thiện những quy định của pháp luật về quản lý thuế tại Việt Nam.
Theo từ điển Oxford, “thuế là khoản tiền phải nộp cho Nhà nước để có thể trang trải cho các dịch vụ công. Người dân nộp thuế theo thu nhập của họ và các doanh nghiệp nộp thuế trên lợi nhuận họ tạo ra. Thuế còn phải nộp trên hàng hóa và dịch vụ”. Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, “thuế là một khoản bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và không hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế và thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật”.
Theo OECD (1996), thuật ngữ “thuế” là “những khoản đóng góp bắt buộc, có giới hạn cho Chính phủ. Các khoản thuế đã nộp sẽ được hoàn trả tương ứng bằng những lợi ích do Chính phủ mang lại với hình thức đặc biệt. Thuế không bao gồm các khoản tiền phạt liên quan đến vi phạm về thuế và các khoản vay bắt buộc phải trả cho Nhà nước”. Nền kinh tế của Việt Nam trƣớc đây vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, mọi chi tiêu của Nhà nƣớc hầu nhƣ đều đƣợc Nhà nƣớc tự cân đối thông qua vay nợ và phát hành thêm tiền vào lƣu thông.
Chính cơ chế bao cấp đã tạo một thói quen cho ngƣời dân sự ỷ lại, trông chờ vào Nhà nƣớc. Thậm chí đa số ngƣời dân không hiểu đƣợc tầm quan trọng của thuế đối với Nhà nƣớc và 8 trách nhiệm của ngƣời dân trong việc thực hiện nghĩa vụ về thuế với Nhà nƣớc. Do vậy, trong tiềm thức, ngƣời dân cho rằng trốn thuế không có gì là xấu xa. ta có thể lên án hành động trọm cắp một đồ vật có giá trị vài trăm ngàn đồng của.
một cá nhân nhƣng hành động trốn thuế hàng tỷ đồng của một chủ doanh nghiệp. tƣ nhân thì lại cho là bình thƣờng. Nhận thức cho thấy sự hiểu biết về tính dân. chủ của dân chúng chƣa cao; và đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến thủ tục hành chính rƣờm rà, nạn tiêu cực phát triển.
Theo từ điển Tiếng Việt, “thuế là khoản tiền hay hiện vật buộc phải nộp cho Nhà nước theo quy định”. Nhƣ vậy, vậy thuế là một hiện tƣợng tất yếu, xuât hiện và tồn tại cùng các hiện tƣợng kinh tế xã hội khác, nó có thể khái quát qua định nghĩa nhƣ sau: Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức cá nhân phải nộp cho nhà nƣớc khi có đủ những điều kiện nhất định. “Bằng quyền lực chính trị của mình, nhà nước đã ban hành các loại thuế để tạo lập nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, các khoản thu này được bố trí sử dụng theo dự toán ngân sách nhà nước đã được phê duyệt cho tiêu dùng công cộng và đầu tư phát triển nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”. Nhƣ vậy, thuế phản ảnh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội, thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nƣớc và các chủ thể khác trong xã hội.
Đặc điểm cơ bản của thuế Thuế ra đời gắn liền với Nhà nƣớc, do đó Thuế ở chế độ xã hội nào thì mang bản chất của Nhà nƣớc đó. Tuy nhiên, thuế có những thuộc tính bên trong, vốn có làm cho nó có tính tƣơng đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và tạo nên những đặc trƣng riêng để phân biệt thuế với các công cụ tài chính khác. Đặc điểm đó là: Thứ nhất, thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà nƣớc mang tính bắt buộc, phi hình sự. 9 Đặc điểm này đã thể hiện rõ nguồn hình thành nên các khoản thuế là thu.
nhập do hoạt động kinh tế của các thể nhân và pháp nhân tạo ra. ở bất cứ một. quốc gia nào, hệ thống thuế cũng bao gồm nhiều loại thuế nhằm điều chỉnh đối. với nhiều đối tƣợng khác nhau.
Có loại thuế điều chỉnh thu nhập, có loại thuế. điều chỉnh tiêu dùng, có loại thuế điều chỉnh tài sản., nhƣng suy cho cùng thì. chúng đều điều chỉnh đối với thu nhập của các tầng lớp trong xã hội. thu nhập đó biến đổi trong quá trình kinh tế, hình thành các loại thu nhập khác.
Thông thƣờng, cứ ứng với mỗi loại thu nhập có một loại thuế điều chỉnh để. nhằm vào những mục tiêu điều tiết khác nhau của Nhà nƣớc, với mức độ và. phƣơng thức huy động khác nhau. Đây là một nhận thức mới về thuế mà các nhà.
quản lý thuế cần quán triệt khi xây dựng chính sách thuế cũng nhƣ chỉ đạo thực. thi chính sách. Đồng thời lý luận này cũng lý giải vì sao ngƣời nộp thuế luôn luôn. cho rằng họ phải chịu nhiều thứ thuế và thuế đánh trùng lên thuế.
Qua đặc điểm này của thuế cho phép ta phân biệt đƣợc sự khác nhau giữa. thuế với các hình thức động viên khác của tài chính Nhà nƣớc. Tính bắt buộc của. thuế thể hiện phƣơng thức phân phối của Nhà nƣớc mà kết quả của quá trình đó.
là một bộ phận thu nhập của ngƣời nộp thuế phải chuyển giao cho Nhà nƣớc. không kèm theo một sự cấp phát hay những quyền lợi trực tiếp nào cho ngƣời. nộp thuế hƣởng thụ. Tuy nhiên, tính bắt buộc của thuế khác với các khoản tiền.
phạt bắt buộc. Tính bắt buộc của thuế thể hiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ của. ngƣời công dân. Ngƣợc lại, tính bắt buộc của các khoản tiền phạt thể hiện yêu cầu.
của cơ quan pháp quyền đối với ngƣời vi phạm pháp luật. Thứ hai, thuế là một khoản chuyển giao thu nhập không mang tính hoàn trả trực tiếp. Sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nƣớc không hoàn toàn dựa trên mức độ ngƣời nộp thuế thừa hƣởng những dịch vụ và hàng hóa công cộng do Nhà nƣớc cung cấp. Ngƣời nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi Nhà 10 nƣớc phải cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới thực hiện việc chuyển giao thu nhập cho Nhà nƣớc.
Mặt khác, mức độ cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nƣớc cũng không nhất thiết ngang bằng mức độ chuyển giao thu nhập. Mức thu nhập chuyển giao nhiều hay ít chỉ căn cứ vào kết quả hoạt động kinh tế và mục tiêu phát triển kinh - xã hội cũng nhƣ nhu cầu tài chính chung của Nhà nƣớc. Khoản chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế không đƣợc hoàn trả trực tiếp, có nghĩa là ngƣời nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận đƣợc một phần các dịch vụ công cộng mà Nhà nƣớc cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tƣơng đồng với khoản tiền thuế mà họ nộp cho Nhà nƣớc. Thứ ba, việc chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế đƣợc qui định trƣớc bằng pháp luật.
Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý cao của thuế.