CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ QUYẾT ĐỊNH MUA BẢO HIỂM NHÂN THỌ Cho đến thời điểm hiện nay đã có một lượng lớn các nghiên cứu được phát triển liên quan đến bảo hiểm nhân thọ và quyết định mua bảo hiểm nhân thọ. Các nghiên cứu này chủ yếu được chia thành 2 hướng: - Các nghiên cứu dựa vào các khung lý thuyết truyền thống sau đó nỗ lực giải thích hành vi mua dựa trên hành vi kỳ vọng của con người. - Các nghiên cứu sử dụng các nhân tố kinh tế, nhân khẩu học, tâm lý …để giải thích quyết định mua bảo hiểm nhân thọ Theo đó, tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án sẽ đi vào trình bày các kết quả nghiên cứu chính đã đạt được để xác định vấn đề nghiên cứu phù hợp trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay. Tổng quan các công trình nghiên cứu ngoài nước 1.
Các công trình nghiên cứu dựa trên khung lý thuyết truyền thống - Nhóm công trình nghiên cứu về bảo hiểm nhân thọ theo lý thuyết tiện ích dự kiến (Expected Utility Theory) Trong những năm 1940 và 1950 có rất nhiều các mô hình mới đã được phát triển để nghiên cứu việc ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn. Lý thuyết tiện ích dự kiến (EUT) từ lâu đã là nền tảng cho các mô hình nghiên cứu về nhu cầu bảo hiểm dựa trên rủi ro đồng thời cũng cung cấp một cơ sở so sánh chung cho các mô hình khác nhau. Những người tiên phong trong những ngày đầu của kinh tế bảo hiểm, như Borch và Mossin (1968), thường gọi EUT dưới sự ác cảm rủi ro là “Nguyên lý Bernoulli” trong sự tôn kính đến luận thuyết nổi tiếng của Bernoulli (1738). Kết quả từ các mô hình EUT vẫn được sử dụng để giải thích nhiều giao dịch trong thực tế, chẳng hạn như thiết kế các hợp đồng bảo hiểm, xác định tỷ lệ khấu trừ cũng như tỷ lệ chia sẻ rủi ro.
Theo lý thuyết tiện ích dự kiến (EUT), nhu cầu bảo hiểm được xác định dựa trên việc tối đa hóa lợi ích kỳ vọng dựa vào một số các yếu tố như tuổi thọ, kỳ vọng sống, thu nhập …trong mối liên hệ với ác cảm rủi ro. Một trong những dự đoán nổi tiếng nhất dựa trên lý thuyết về lợi ích kỳ vọng (EUT) là nhu cầu bảo hiểm gia tăng cùng với tài sản. Trong nghiên cứu về việc phát triển các thang đo về việc lo ngại rủi ro (Arrow (1965); Pratt và cộng sự (1964)) cho rằng tài sản và nhu 9 cầu bảo hiểm có liên hệ tỷ lệ nghịch. Mossin (1968) cũng đã chứng minh rằng nếu phương pháp đo lường của Arrow – Pratt với mức độ hoàn toàn lo ngại rủi ro thì khi tài sản gia tăng và phí bảo hiểm là khả thi trong điều kiện các yếu tố được tính toán cân bằng (giá trị tài sản hay phân bổ tổn thất) thì mức độ khấu trừ cũng tăng và chi phí một người sẵn sàng trả để mua bảo hiểm sẽ giảm đi.
Theo Browne và Kim (1993), các lý thuyết về mô hình bảo hiểm nhân thọ được xuất phát bởi Yaari (1964); Yaari (1965) Fischer (1973), Campbell (1980) và Bernheim (1991). Tất cả những mô hình này đã chỉ ra lý thuyết tiêu dùng của Yaari (1965) những người tiêu dùng coi bảo hiểm nhân thọ có ý nghĩa như là một phương tiện liên quan đến sự không chắc chắn về thu nhập của hộ gia đình cũng như cái chết sớm của những người trụ cột. Trong khung lý thuyết của Yaari, một người tiêu dùng mua bảo hiểm nhân thọ để gia tăng kỳ vọng của họ về lợi ích của cuộc đời. Lewis (1989) đã sử dụng khung lý thuyết bảo hiểm nhân thọ được phát triển bởi Yaari (1965) trong bài viết của ông bằng cách đưa vào mô hình của mình những sở thích của các thành viên khác trong gia đình.
Trong khi đó, nghiên cứu trước đây dựa trên giả định rằng bảo hiểm nhân thọ được mua để tối đa hóa tiện ích trọn đời của cá nhân mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cũng như của người có thu nhập trụ cột. Lewis cho rằng nên mua bảo hiểm nhân thọ để đáp ứng nhu cầu cho người sống sót. Mô hình của ông không rõ ràng dựa vào thu nhập trụ cột là động cơ thúc đẩy. Lewis (1989) xem xét nhu cầu bảo hiểm nhân thọ khác với các nghiên cứu trước đó bằng việc xác định định mục tiêu của hộ gia đình là tối đa hóa lợi ích dự kiến của người thụ hưởng.
Theo đó thì tổng số tiêu dùng bảo hiểm nhân thọ gia tăng với khả năng tử vong của người có thu nhập chính và giá trị hiện tại của các khoản tiêu dùng dành cho gia đình giả thiết khi người có thu nhập còn sống. Việc tiêu dùng bảo hiểm nhân thọ cũng gia tăng với những gia đình có mức độ lo ngại rủi ro và tỷ lệ nghịch khi chính sách phí thay đổi và tài sản của gia đình. Những cá nhân mà né tránh rủi ro, một giả định phổ biến trong lý thuyết về kinh tế học tập trung vào các lý thuyết của Morgenstern và Von Neumann (1953). Hành vi bảo hiểm thường được trích dẫn như là một cách hỗ trợ mẫu mực cho giả định về né tránh rủi ro (Arrow, 1971; Deaton và Muellbaure, 1980).
Trong trường hợp cụ thể, mọi người sẵn sàng mua bảo hiểm để trả phí cho rủi ro (một khoản tiền lớn hơn giá trị kỳ vọng mà họ khiếu nại) để loại trừ xác suất của một tổn thất lớn trong tương lai. Không phải ngạc nhiên mà những mô hình bảo hiểm dự đoán dựa trên lý thuyết về lợi ích chuẩn mực cho thấy nhu cầu bảo hiểm và lo sợ rủi ro có tương quan tích cực (Schlesinger, 2000; Briys và Schlesinger, 1990). 10 Những dự đoán chuẩn mực khác từ các mô hình bảo hiểm dựa trên lý thuyết về lợi ích đều cho rằng nhu cầu nên được gia tăng cùng với quy mô và xác suất của tổn thất có thể có (Beenstock và cộng sự, 1988) và giảm đi khi giá cả gia tăng ((Beenstock và Chan, 1988);(Ehrlich và Becker, 1972). Thêm vào đó, mọi người sẽ thích bảo hiểm hơn với các sự kiện tổn thất lớn và xác suất rủi ro thấp hơn là các loại hình bảo hiểm cho các sự kiện tổn thất thấp mà xác suất rủi ro thấp với cùng một giá trị kỳ vọng tương tự (Ehrlich và Becker, 1972).
Điều này có nghĩa là mọi người sẵn lòng mua bảo hiểm nhiều hơn cho những tổn thất lớn hơn. Như vậy, tổng hợp các nghiên cứu dự đoán về tiêu dùng bảo hiểm cho thấy nếu các quyết định về bảo hiểm được thực hiện một cách riêng biệt với các quyết định tiêu dùng khác thì trong mô hình lợi ích kỳ vọng (EUT), nhu cầu bảo hiểm nhân thọ hiếm khi bao gồm các quyết định về tiết kiệm và tiêu dùng khác và không có được các dự báo đủ mạnh xuất phát từ lý thuyết này. Các nghiên cứu về bảo hiểm nhân thọ dựa trên lý thuyết về hành vi mua Cùng với thời gian lý thuyết tiện ích dự kiến EUT và tiên đề sáng lập của nó đã bị thách thức nặng nề nhưng một dòng lý thuyết quan trọng khác xuất phát từ những nghi ngờ về khả năng giải thích tích cực của EUT cũng đã lần lượt ra đời sau đó như lý thuyết triển vọng hay lý thuyết về khách hàng tiềm năng (Kahneman và Tversky, 1979). Tuy nhiên các lý thuyết này chủ yếu được dùng để giải thích cho các hành vi mua bảo hiểm tài sản hay nông nghiệp chứ không hay được dùng để nghiên cứu hành vi mua bảo hiểm nhân thọ.
Các điều tra thực tế, câu trả lời khảo sát và kết quả thử nghiệm thường không phù hợp với tiện ích dự kiến. Nhiều phần mở rộng của mô hình EUT chuẩn đưa ra các mức độ tự do bổ sung và có thể có khả năng tiên đoán cao hơn đối với một số cá nhân như lý thuyết triển vọng (Kahneman và Tversky, 1979) tuy nhiên, mối quan hệ vướng mắc giữa nhận thức và sở thích hoặc thái độ đối với rủi ro và sản phẩm vẫn còn. Vì vậy, khi các thí nghiệm được kiểm soát trở nên phổ biến hơn trong kinh tế, các nghi ngờ về sức mạnh giải thích chung của EUT và các nghiên cứu từ mô hình hành vi hợp lý đã được củng cố thì việc nghiên cứu quyết định mua bảo hiểm nhân thọ dưới góc độ hành vi đã được phát triển (Starmer, 2000). Nghiên cứu bảo hiểm nhân thọ dưới góc độ hành vi mua đã được kiểm chứng trong một vài nghiên cứu sớm để kiểm tra mức độ phù hợp của các mô hình hành vi như TRA trong lĩnh vực bảo hiểm (Hastings và Fletcher, 1983; Karni và Zilcha, 1986; Fletcher và Hastings, 1984).
Trong nghiên cứu của mình Hastings và Fletcher (1983) đã ứng dụng mô hình của Fishbein và Ajzen (1980) với một niềm tin rằng Hành vi mua 11 bảo hiểm nhân thọ (B) có thể được dự đoán bởi ý định hành vi (BI). Và ý định hành vi này có thể được giải thích bằng kiến thức về thái độ đối với hành động (Aact) và định mức chủ quan hoặc ảnh hưởng xã hội (SN). Thái độ đối với hành động (Aact) có thể được giải thích bằng bằng một kiến thức về niềm tin nổi bật của một người về các kết quả từ thực hiện hành động (bi) và những đánh giá của người đó về những niềm tin này (ei). Tiêu chuẩn chủ quan có thể được giải thích bằng kiến thức về niềm tin của người đó về một số người quan trọng nghĩ rằng chủ thể nên hoặc không nên thực hiện hành động (NBi) nhân với động cơ của mình để tuân thủ (MCi).
Khi đó: Theo lý thuyết hành động hợp lý thì phương trình hành vi được biểu diễn như sau: B BI = Aact * w1 + SN * w2 Trong đó: Thái độ đối với hành động được biểu diễn như sau: Aact = ∑biei SN =∑NBi.MCi Điều này phù hợp với quan điểm của mô hình rằng hành vi thực tế có thể là được xác định bởi ý định hành vi. Ý định đó trong hoàn cảnh này bao gồm các yếu tố: yếu tố hành động (mua), yếu tố mục tiêu (đảm bảo cuộc sống) và yếu tố thời gian (năm năm). Bằng cách này cùng với việc áp dụng lý thuyết về niềm tin của Fishbein để đi đến kết luận cho thấy niềm tin là biến ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ vì họ cho rằng bảo hiểm là một sự lãng phí tiền bạc và kết quả là họ không có tiền để chi tiêu (Fletcher và Hastings, 1984).