chương I, điều 3 thì 6 “BHNT là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết”.2 Lịch sử ra đời BHNT ra đã đời và phát triển từ rất lâu trên thế giới. Hợp đ ồng BHNT đầu tiên ra đời năm 1583 ở Luân Đôn, do công dân Luân Đôn là ông William Gybbon tham gia bảo hiểm. Phí bảo hiểm ông phải đóng lúc đó là 32 bảng Anh, khi ông chết trong năm đó, người thừa kế của ông được hưởng 400 bảng Anh. Như vậy, BHNT đã có từ rất sớm, nhưng lại không có điều kiện phát triển ở một số nước do thiếu cơ sở kỹ thuật.
Tuy nhiên sau đó do sự phát triển kinh tế mạnh mẽ, cuộc sống của con người được cải thiện rõ rệt, thêm vào đó là sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật nên BHNT đã có điều kiện phát triển trên phạm vi rộng lớn. Năm 1759, công ty BHNT đầu tiên ra đời ở Châu Mỹ, công ty bảo hiểm Philadelphia của Mỹ. Công ty này đến nay vẫn còn hoạt động, nhưng lúc đầu chỉ bán các hợp đồng bảo hiểm cho các con chiên trong nhà thờ của họ. Năm 1762, ở Anh thành lập công ty BHNT Equitable.
Đây là công ty đầu tiên bán các hợp đồng bảo hiểm rộng rãi cho nhân dân và áp dụng nguyên tắc phí bảo hiểm không đổi trong suốt thời gian bảo hiểm. Năm 1812, một công ty BHNT nữa được thành lập ở Bắc Mỹ. Năm 1860 bắt đầu xuất hiện hệ thống mạng lưới đại lý BHNT. Ở Châu Á, các công ty BHNT ra đời đầu tiên ở Nhật Bản.
Năm 1868 công ty bảo hiểm Meiji của Nhật ra đời và đến năm 1888 và 1889, hai công ty khác là Kyoei và Nippon ra đời và phát triển cho đến ngày nay. Trên thế giới, BHNT là loại hình bảo hiểm phát triển nhất. Với nhận thức sâu sắc về vai trò và tầm quan trọng của BHNT, trong những năm qua Ch ính phủ và Bộ tài chính rất quan tâm phát triển nghiệp vụ này. Với sự ra đời của công ty BHNT, chính thức đầu tiên ở Việt Nam năm 1996 đã khẳng định rõ sự quan tâm của các cơ quan nhà nước tầm vĩ mô.
Mặc dù chúng ta mới tiến hành nghiệp vụ BHNT hơn năm năm, nhưng những gì BHNT Việt Nam đạt được trong thời gian đó rất đáng ghi nhận. Tạo nên cho người dân Việt Nam một phong tục sống mới, một hình thức tiết kiệm mới. Trong thực tế bảo BHNT đã xuất hiện ở Việt Nam từ rất sớm dưới nhiều hình thức khác nhau. 7 Trước năm 1954, ở miền Bắc, những người làm việc cho Pháp đã được bảo hiểm và một số gia đình đã được hưởng quyền lợi bảo hiểm của các hợp đồng BHNT này.
Các hợp đồng bảo hiểm này đều được do các công ty bảo hiểm của Pháp trực tiếp thực hiện. Trong những năm 1970 - 1971 ở miền Nam công ty Hưng Việt bảo hiểm đã triển khai một số loại hình bảo hiểm như “An Sinh Giáo Dục”, “Bảo Hiểm Trường Sinh” (BHNT trọn đời), “ Bảo hiểm tử kỳ thời hạn 5- 10 20 năm” nhưng công ty này chỉ hoạt động từ một đến hai năm nên các nghiệp vụ bảo hiểm không được biết đến rộng rãi. Năm 1987, Bảo Việt đã có đề án “BHNT và việc vận dụng vào Việt Nam” nhưng vào lúc đó điều kiện đất nước còn gặp nhiều khó khăn như: Tỷ lệ lạm phát rất cao và không ổn định. Thu nhập của nhân dân chỉ đủ để chi tiêu cho những nhu cầu tối thiểu thường ngày, phần tiết kiệm đầu tư rất ít chưa có điều kiện để công ty bảo hiểm hoạt động trong lĩnh vực đầu tư.
Công ty bảo hiểm lúc đó chưa được phép sử dụng quỹ bảo hiểm đi đầu tư, môi trường đầu tư chưa phát triển. Chưa có những quy định mang tính chất pháp lý để điều chỉnh mối quan hệ giá công ty bảo hiểm, bảo vệ quyền lợi cho người được bảo hiểm và khả năng thanh toán của công ty bảo hiểm. Với những khó khăn trên đã không cho phép công ty Bảo Việt phát triển nghiệp vụ BHNT. Thay cho BHNT năm 1990 Bộ Tài Chính cho phép công ty Bảo Việt triển khai “Bảo hiểm sinh mạng con người thời hạn 1 năm”.
Thực tế triển khai nghiệp vụ này cho thấy: việc lo xa cho gia đình khi không may người chủ gia đình bị mất mà chỉ tính đến trong vòng 1 năm là không hấp dẫn. Tâm lý người tham gia loại hình bảo hiểm này cũng không thoải mái. Và do đó loại hình bảo hiểm này chỉ đáp ứng được nhu cầu cho những người già. Với thực tế trên, cùng với việc đánh giá các điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam trong những năm đầu thập kỷ 90, tổng cộng công ty bảo hiểm Việt Nam đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu triển khai nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ với hai loại hình mang tính chất tiết kiệm từ cuối năm 1993.
Đến tháng 1 năm 1994, tổng công ty bảo hiểm Việt Nam mới chính thức trình Bộ Tài chính dự án thành lập công ty BHNT. 8 Với những yêu cầu về quản lý quỹ BHNT, Bộ Tài Chính đã ký quyết định số 568/QĐ/TCCB ngày 22/6/1996 thành lập công ty BHNT trực thuộc Bảo Việt. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt mới trong sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam. Cho đến nay BHNT đã phát triển rất mãnh mẽ và đa dạng.
Từ những loại hình nhân thọ cơ bản là bảo hiểm sinh mạng có thời hạn (Bảo hiểm tử kỳ), bảo hiểm trọn đời, BHNT hỗn hợp, bảo hiểm trợ cấp hưu trí, mỗi công ty bảo hiểm đều thiết kế những sản phẩm mang những đặc thù riêng để đáp ứng nhu cầu tài chính của từng khu vực dân cư và phù hợp với chính sách kinh tế, xã hội của từng quốc gia.3 Phân loại bảo hiểm Phân loại bảo hiểm theo Luật kinh doanh bảo hiểm Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (sửa đổi năm 2022), các nghiệp vụ bảo hiểm được chia thành: BHNT, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe và các nghiệp vụ bảo hiểm khác. Cụ thể như sau: Bảo hiểm nhân thọ, bao gồm: + Bảo hiểm trọn đời; + Bảo hiểm sinh kỳ; + Bảo hiểm hỗn hợp; + Bảo hiểm trả tiền định kỳ; + Bảo hiểm liên kết đầu tư; + Bảo hiểm hưu trí; Bảo hiểm phi nhân thọ, bao gồm: + Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại; + Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và đường hàng không; + Bảo hiểm hàng không; + Bảo hiểm xe cơ giới + Bảo hiểm cháy, nổ; + Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu; + Bảo hiểm trách nhiệm; 9 + Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; + Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; + Bảo hiểm nông nghiệp; Bảo hiểm sức khỏe, bao gồm: + Bảo hiểm tai nạn con người; + Bảo hiểm y tế; + Bảo hiểm chăm sóc sức khỏe; Phân loại bảo hiểm theo đối tượng bảo hiểm Theo tiêu thức này, bảo hiểm được chia thành 3 loại: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người. a) Bảo hiểm tài sản bao gồm những nghiệp vụ bảo hiểm là các tài sản và những lợi ích liên quan. b) Bảo hiểm trách nhiệm dân sự bao gồm những đối tượng bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường của người được bảo hiểm phát sinh theo quy định về trách nhiệm dân sự của pháp luật.
c) Bảo hiểm con người bao gồm những đối tượng bảo hiểm là tính mạng, sức khỏe, khả năng lao động và tuổi thọ con người. Phân loại bảo hiểm theo hình thức bảo hiểm a) Bảo hiểm tự nguyện Bao gồm những nghiệp vụ bảo hiểm mà hợp đồng bảo hiểm được ký kết theo ý muốn của bên được bảo hiểm và hoàn toàn dựa trên nguyên tắc thỏa thuận giữa hai bên (bên bán bảo hiểm và bên mua bảo hiểm). Phần lớn các nghiệp vụ bảo hiểm thuộc loại bảo hiểm tự nguyện. b) Bảo hiểm bắt buộc Là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vũ thực hiện.4 Lợi ích của bảo hiểm nhân thọ a) Đối với cá nhân BHNT đảm bảo an toàn về tài chính cho những ngừoi phụ thuộc.
Giúp đảm bảo khoản chi phí tài chính để khắc phục tổn thất khi người trụ cột gặp 10 rủi ro, giúp duy trì mức sống ổn định cho gia đình khi những rủi ro bất ngờ ập đến. BHNT còn là quỹ tiết kiệm cho tương lai, giúp tích luỹ có kỹ luật để có một khoản tiền lớn chăm lo cho tương lai học vấn của con cái. Tham gia BHNT còn xây dựng quỹ tiết kiệm dài hạn cho những kế hoạch của cá nhân và gia đình. Chỉ cần để dành những khoản tiền nhỏ đều đặn bạn có thể thực hiện những kế hoạch cho tương lại như: lập gia đình, mua nhà, mua xe, hay những mong muốn khác.
b) Đối với xã hội BHNT là một công cụ hữu hiệu để huy động những nguồn tiền mặt nhàn rỗi ở các tầng lớp dân cư trong xã hội để thực hành tiết kiệm, đầu tư cho những dự án trung và dài hạn nhằm góp phần pháp triển đất nước, góp phần chống lạm phát. Tạo sự ổn định xã hội thông qua việc giảm thiểu tối đa sự lo lắng cho bên mua bảo hiểm. Giảm gánh nặng ngân sách quốc gia trong việc chăm lo người già, và những người phụ thuộc khi người trụ cột trong gia đình qua đời. Tạo công ăn việc làm cho nhiều người.5 Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ Dịch vụ BHNT là loại hình bảo hiểm chỉ liên quan đến các sự kiện xảy ra trong cuộc sống của con người.
Do đó, BHNT có những đặc điểm sau: Thứ nhất, BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro: Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với bảo hiểm phi nhân thọ. Thật vậy, mỗi người mua BHNT sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ (gọi là phí bảo hiểm) cho người bảo hiểm, ngược lại người bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền lớn (gọi là số tiền bảo hiểm) cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thoả thuận từ trước khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra. Số tiền bảo hiểm được trả khi người được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định và được ấn định trong hợp đồng.