PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Ở những nước có nền kinh tế phát triển thì loại hình Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm và trở thành một hoạt động không thể thiếu trong đời sống mỗi con người, mỗi gia đình và xã hội. Với mỗi cá nhân, mỗi gia đình loại hình BHNT là một hình thức tiết kiệm thường xuyên, có kế hoạch, có tính kỷ luật cao để tạo lập quỹ tài chính thực hiện các dự định lớn trong cuộc sống (như mua nhà, mua xe, cho con học đại học, mở rộng ngành nghề kinh doanh). Loại hình này còn giúp gia đình giảm bớt những khó khăn về tài chính khi rủi ro xảy ra (tai nạn, bệnh tật.), hoặc đảm bảo thu nhập ổn định khi hết tuổi lao động.
Đối với xã hội, loại hình BHNT là một kênh tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân để đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội. Đây là nguồn vốn trung và dài hạn rất quan trọng để đầu tư phát triển, đặc biết với những nước có nền kinh tế đang phát triển như ở nước ta. BHNT còn là một hình thức tạo quỹ phúc lợi xã hội, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động xã hội, hoạt động từ thiện và tạo việc làm cho người lao động. Nhận thức được vai trò và ý nghĩa của loại hình BHNT, năm 1996, Đảng và Nhà nước ta đã cho phép triển khai hoạt động kinh doanh BHNT.
Nếu như thời gian đầu chỉ có duy nhất Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam thì đến nay (đầu năm 2003), trên thị trường BHNT nước ta chính thức có 5 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này (có cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài, và doanh nghiệp liên doanh). Sau hơn 6 năm hoạt động loại hình BHNT đã thu được những thành quả nhất định: tăng trưởng khá, các sản phẩm ngày càng đa dạng, chất lượng phục vụ ngày càng được nâng cao. Nhưng theo con số thống kê của ngành bảo hiểm thì tính tới cuối năm 2002 số người tham gia BHNT ở nước ta mới chỉ chiếm gần 2% dân số và số người tham gia chủ yếu chỉ tập trung ở một số thành phố lớn là Hà Nội 5 z và Thành phố Hồ Chí Minh. Tỷ lệ người dân tham gia BHNT, tỷ lệ doanh thu phí BHNT ở nước ta thấp hơn nhiều so với những nước trong khu vực và thế giới.
Như năm 2002 vừa qua, tổng doanh thu phí BHNT ở nước ta mới chỉ chiếm 0,97% GDP, trong khi tỷ lệ này ở Đài Loan là 6,9%, Xingapo là 5,52%, Thái Lan là 2,25%, Trung Quốc là 1,5%. Trung bình một người dân Việt Nam năm 2002 đã tiêu dùng 4 USD/năm cho BHNT, trong khi đó ở Trung Quốc là 10 USD, Thái Lan là 30 USD, Hàn Quốc là 903 USD. Theo những chuyên gia trong lĩnh vực BHNT những thành quả đã đạt được trong những năm vừa qua chưa tương xứng với tiềm năng thực sự của thị trường BHNT nước ta. Vậy nguyên nhân nào đã làm cho người dân chưa tham gia BHNT, trong khi loại hình này có những ý nghĩa to lớn với cuộc sống của con người như vậy? Điều kiện cần và đủ để người dân tham gia BHNT là: - Có hiểu biết về loại hình BHNT.
- Có niềm tin vào loại hình BHNT. - Là đối tượng của loại hình BHNT. - Có khả năng tài chính nhất định. Khái quát lại thì đó là hai yếu tố: thái độ của con người với loại hình BHNT và vấn đề tài chính.
Chúng tôi cho rằng loại hình BHNT cũng là một sản phẩm tiêu dùng, hành vi tham gia BHNT cũng có cấu trúc tâm lý của hành vi mua hàng, hành vi tiêu dùng sản phẩm. Hơn nữa, loại hình BHNT là loại dịch vụ đặc biệt, là sản phẩm vô hình, vì vậy thái độ của người dân với loại hình này có ảnh hưởng rất lớn tới hành vi tham gia hay không tham gia BHNT. Với những những ý nghĩa đó chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu thái độ của ngƣời dân Hà Nội với loại hình Bảo hiểm nhân thọ” 2. Ý nghĩa của đề tài 2.
Về mặt lý luận 6 z Đóng góp phát triển lý thuyết về thái độ trong Tâm lý học nói chung và Tâm lý học quản trị kinh doanh nói riêng. Thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi muốn tìm hiểu sâu hơn về khái niệm, đặc điểm, cấu trúc, chức năng của thái độ trên bình diện tâm lý học. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm xác định rõ vai trò của thái độ đối với quyết định tham gia BHNT của người dân. Về mặt thực tiễn Nghiên cứu này tìm hiểu thực trạng thái độ của người dân Hà Nội đối với loại hình BHNT đang được triển khai trên địa bàn Hà Nội nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung.
Nhằm tìm ra những yếu tố tâm lý đã tạo nên thái độ tích cực, tin tưởng của người dân với loại hình BHNT. Nhằm tìm ra những yếu tố tâm lý đã tạo ra thái độ tiêu cực, hoài nghi của người dân với loại hình BHNT Từ đó đề xuất những kiến nghị giúp các nhà quản lý có những chiến lược thúc đẩy nhiều người dân tự nguyện tham gia BHNT hơn nữa (cũng là làm cho mọi người dân có một tương lai an toàn hơn). Những điều đó cũng góp phần thúc đẩy ngành BHNT nước ta tăng trưởng, phát triển tương xứng với những tiềm năng thực sự của thị trường. Tạo ra nguồn vốn quan trọng để thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Giả thuyết nghiên cứu Phần lớn người dân Hà Nội có thái độ tích cực đối với loại hình BHNT. Thái độ đối với loại hình BHNT bị quy định bởi rất nhiều các yếu tố khách quan và tâm lý chủ quan nhưng các yếu tố tâm lý chủ quan đóng vai trò quyết định (nhận thức niềm tin, nhu cầu, động cơ). Người dân Hà Nội cũng có thái độ khác nhau đối với các doanh nghiệp BHNT khác nhau. Mục tiêu nghiên cứu 7 z Khái quát hoá những vấn đề lý luận, làm sáng tỏ một số khái niệm trong phạm vi đề tài nghiên cứu (Thái độ, nhận thức, xúc cảm tình cảm, Bảo hiểm nhân thọ).
Tìm hiểu thái độ với loại hình BHNT của người dân Hà Nội thông qua nhận thức của họ về loại hình này. Tìm hiểu thái độ với loại hình BHNT của người dân Hà Nội thông qua xúc cảm, tình cảm của họ đối với loại hình này. Tìm hiểu thái độ của người dân Hà Nội với loại hình BHNT biểu hiện ở những hành vi của họ đối với loại hình này. Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới thái độ của người dân với loại hình BHNT Tìm hiểu những nguồn thông tin chủ yếu giúp người dân Hà Nội có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về loại hình BHNT.
Đề xuất những kiến nghị tạo cơ sở về mặt tâm lý học giúp các công ty bảo hiểm có những chính sách, chiến lược tạo ra thái độ tích cực, tin tưởng với loại hình BHNT. Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu 5.1 Đối tượng nghiên cứu Thái độ với loại hình Bảo hiểm nhân thọ.2 Khách thể nghiên cứu Người dân đang sống trên địa bàn thành phố Hà Nội và một số cán bộ tư vấn BHNT. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành trên gần 400 khách thể trên địa bàn nội và ngoại thành của thành phố Hà Nội. Chúng tôi đã lựa chọn khách thể ở 2 quận nội thành là Thanh Xuân và Hai Bà Trưng, 2 huyện ngoại thành là Thanh Trì và Đông Anh.
Ở mỗi quận, huyện chúng tôi chọn 50 người đã tham gia (địa chỉ do công ty bảo hiểm cung cấp) và 50 người chưa tham gia (chọn những 8 z khách thể có điều kiện kinh tế). Trong gần 400 khách thể đó gồm: công nhân, nông dân, trí thức, những người buôn bán, trong độ tuổi từ 20 - 60 (độ tuổi này họ có khả năng về tài chính và tư cách pháp nhân để tham gia BHNT). Chúng tôi còn tiến hành nghiên cứu trên hơn 100 khách thể phụ là những cán bộ quản lý, cán bộ tư vấn thuộc Công ty Bảo Việt nhân thọ Hà Nội và chi nhánh Công ty Prudental tại Hà Nội, với mục đích thu thập thông tin để so sánh, đối chiếu, kiểm chứng những thông tin thu được từ phiếu trưng cầu ý kiến và phỏng vấn người dân. Các phƣơng pháp nghiên cứu 7.
Phương pháp quan sát Chúng tôi sử dụng những phương pháp quan sát để có những định hướng ban đầu về khách thể, kiểm tra giả thiết và chính xác hoá những kết quả thu được bằng những phương pháp khác. Quan sát những hành động ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của khách thể kết hợp cùng với phương pháp phỏng vấn và điều tra bằng bảng hỏi. Chúng tôi đã tiến hành quan sát hoạt động nói, nội dung lời nói và các biểu hiện cử chỉ nét mặt của người dân khi được cán bộ tư vấn tiếp xúc mời tham gia BHNT. Những quan sát này đều được chúng tôi ghi chép lại.
Phương pháp phân tích tài liệu Chúng tôi đã tham khảo các các tài liệu trong nước và nước ngoài có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai nghiên cứu thực tiễn. Căn cứ vào các tài liệu tâm lý học, các tài liệu của các công ty bảo hiểm, ngành bảo hiểm để tìm hiểu, đánh giá vấn đề thái độ của người dân Hà Nội với loại hình BHNT. Cụ thể chúng tôi tiến hành đọc, phân tích và khái quát hoá các quan điểm, lý thuyết cơ bản về thái độ và các công trình nghiên cứu về thái độ trước đó. Mục đích nhằm phỏng đoán đưa ra giả thiết khoa học, xác nhận về mặt lý thuyết các giả thuyết đã đặt ra không trái với những kết luận đã được công bố về mặt lý thuyết.
Xây dựng cơ sở lý luận 9 z cho đề tài, tìm ra các phương án thích hợp cho bảng hỏi và kiểm tra các kết quả thu được thông qua các phương pháp khác. Phương pháp phỏng vấn sâu Phương pháp phỏng vấn sâu được chúng tôi sử dụng nhằm làm phong phú và làm rõ thêm các số liệu thu được từ các phương pháp khác từ đó tăng độ tin cậy của các số liệu. Khai thác các thông tin cơ bản liên quan đến đề tài bằng cách phỏng vấn một số người dân, một số cán bộ quản lý và một số cán bộ tư vấn của các công ty BHNT ở Hà Nội.