Chương I: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của dịch vụ bảo hiểm xe cơ giới - Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ bảo hiểm xe cơ giới tại PTI - Chương III: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ bảo hiểm xe cơ giới tại PTI điện giai đoạn 2016 - 2020 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DỊCH VỤ BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI 7 1. Tổng quan về bảo hiểm xe cơ giới 1. Khái niệm và nội dung của bảo hiểm xe cơ giới “Xe cơ giới được hiểu là tất cả các loại phương tiện tham gia giao thông trên đường bộ bằng động cơ của chính phương tiện đó, bao gồm xe ô tô, xe mô tô, xe máy. Để đối phó với những rủi ro tai nạn bất ngờ có thể xảy ra gây tổn thất cho mình, các chủ xe cơ giới (bao gồm các cá nhân, tổ chức có quyền sở hữu hoặc được phép sử dụng xe cơ giới, kinh doanh vận chuyển hành khách xe cơ giới)” thường tham gia các loại hình bảo hiểm sau: “- Bảo hiểm Trách nhiệm: + BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3.
+ BHTNDS của chủ xe cơ giới với hàng hóa chuyên trở trên xe. - Bảo hiểm tai nạn: + Bảo hiểm tai nạn hành khách trên xe. + Bảo hiểm tai nạn lái, phụ xe + Bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe - Bảo hiểm vật chất xe cơ giới” Trong các loại hình bảo hiểm trên thì nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba và nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới là hai nghiệp vụ trọng tâm góp phần tích cực cho người tham gia bảo hiểm khi gặp rủi ro và mang lại doanh thu chính đối với mảng kinh doanh BHXCG của doanh nghiệp bảo hiểm. Trong khuôn khổ luận văn này, tôi trực tiếp đi sâu vào hai dịch vụ chính của dịch vụ này là: BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba và bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
Thứ nhất, BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba a. Đối tượng được bảo hiểm. “Đối tượng được bảo hiểm là trách nhiệm dân cư của chủ xe cơ giới đối 8 với người thứ ba. TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba là trách nhiệm bồi thường hay nghĩa vụ ngoài hợp đồng của chủ xe hay lái xe cho người thứ ba do việc lưu hành xe gây tai nạn.
Điều kiện để được bảo hiểm. Điều kiện để phát sinh BHTNDS: “- Điều kiện thứ nhất: Phải có thiệt hại về tài sản, tính mạng hay sức khoẻ của bên thứ ba. - Điều kiện thứ hai: Chủ xe (lái xe) phải có hành vi trái pháp luật, vi phạm luật giao thông đường bộ, hoặc vi phạm quy định khác của Nhà nước. - Điều kiện thứ ba: Phải có mối quan hệ nhân quả của hành vi trái pháp luật của chủ xe (lái xe) với những thiệt hại của người thứ ba.
- Điều kiện thứ tư: Chủ xe (lái xe) phải có lỗi. Trong BHTNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, khi xảy ra tai nạn thiệt hại cho người thứ ba thì người được bảo hiểm bồi thường là chủ xe hoặc người đi diện chi chủ xe được pháp luật công nhận.” Các trường hợp không phát sinh TNDS: “- Thiệt hại xảy ra do bản thân phương tiện được bảo hiểm. - Thiệt hại mà phương tiện gây ra cho những người mà chủ xe có nghĩa vụ nuôi dưỡng. - Thiệt hại do hai xe cùng chủ đâm va.
- Trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự của lái xe. - Các khoản phạt mà lái xe hoặc chủ xe phải chịu. Phạm vi bảo hiểm. “DNBH nhận bảo hiểm cho các rủi ro bất ngờ không lường trước được gây ra tai nạn và làm phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe.
DNBH bồi thường những thiệt hại về vật chất, về người, về tài sản được tính toán theo những điều kiện, điều khoản đã cam kết với khách hàng. Ngoài ra, thì DNBH còn phải thanh toán cho chủ xe những chi phí mà họ đã phát sinh nhằm 9 phòng ngừa, hạn chế thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của DNBH được hạn mức trong mức trách nhiệm ghi trong hợp đồng hay giấy chứng nhận bảo hiểm. Như vậy bản thân chủ xe phải tự bảo hiểm cho phần trách nhiệm vượt quá mức này.
Trong BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, các thiệt hại nằm trong phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm bao gồm: - Thiệt hại về tính mạng và tình trạng sức khoẻ của bên thứ ba. - Thiệt hại về tài sản hàng hoá của bên thứ ba. - Thiệt hại về tài sản làm thiệt hại đến kết quả kinh doanh hoặc giảm thu nhập. - Các chi phí cần thiết và hợp lý để thực hiện các biện pháp ngăn ngừa hạn chế thiệt hại, các chi phí đề xuất của cơ quan bảo hiểm (kể cả biện pháp không mang lại hiệu quả).
Các rủi ro loại trừ: - Tai nạn xảy ra do hành động xấu, cố ý của chủ xe, lái xe. - Tai nạn xảy ra do hành động xấu, cố ý của người thứ ba. - Xe không có giấy phép lưu hành. - Lái xe không đủ năng lực điều khiển phương tiện theo quy định của Luật giao thông đường bộ.
- Xe vi phạm nghiêm trọng Luật giao thông đường bộ: Chở quá tải, chuyên trở trái phép… - Xe không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật. - Các rủi ro loại trừ khác: chiến tranh, phạm vi ngoài Việt Nam… Thứ hai, Bảo hiểm vật chất xe cơ giới a. Khái niệm: Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là loại hình Bảo hiểm tài sản và nó được thể hiện dưới hình thức bảo hiểm tự nguyện. Chủ xe tham gia bảo hiểm vật chất xe nhằm mục đích được bồi thường cho những thiệt hại vật chất 10 đối với xe của mình do rủ ro thuộc phạm vi bảo hiểm gây nên.
Đối tượng bảo hiểm: “Là bản thân những chiếc xe còn giá trị và được phép lưu hành trên lãnh thổ quốc gia. Phạm vi bảo hiểm: “- Tai nạn do đâm va lật đổ; - Cháy, nổ, bão lụt, sét đánh, động đất, mưa đá; - Mất cắp toàn bộ xe - Các tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên. Ngoài ra việc được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra cho chiếc xe được bảo hiểm trong những trường hợp trên, các DNBH còn thanh toán cho các chủ xe tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý như: - Chi phí bảo vệ xe và kéo xe thiệt hại đến nơi sửa chữa gần nhất; - Chi phí giám định tổn thất nếu thuộc trách nhiệm của bảo hiểm; chi phí nhằm ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh. Các rủi ro loại trừ: “Trong mọi trường hợp tổng STBT của DNBH không vượt quá STBH đã ghi trên đơn hay trên giấy chứng nhận bảo hiểm.
Bên cạnh đó, DNBH không chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại vật chất của xe gây ra bởi: - Hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết tật hoặc hư hỏng do sửa chữa. - Hư hỏng mà không do tai nạn gây ra - Mất cắp bộ phận của xe (trừ trường hợp có điều khoản bổ sung) - Hành động cố ý của con người. - Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để lưu hành theo quy định của Luật an toàn giao thông đường bộ. - Chủ xe (lái xe) vi phạm nghiêm trọng Luật an toàn giao thông đường bộ như: Xe không có giấy phép lưu hành; lái xe không có bằng lái hoặc 11 không hợp lệ; lái xe bị ảnh hưởng của rượu bia, ma túy hoặc các chất kích thích tương tự khi điều khiển xe; xe chở vật liệu nổ, chất cháy trái phép; xe trở quá trọng tải hoặc quá số hành khách quy định; xe đi vào đường cấm; xe đi đêm không bật đèn; xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, chạy thử sau sửa chữa;các thiệt hại gián tiếp như giảm giá trị thương mại, đình trệ hoạt động kinh doanh; thiệt hại do chiến tranh.
Đặc điểm của dịch vụ BHXCG 1. Tính vô hình Khi khánh hàng mua dịch vụ (sản phẩm) BHXCG, mặc dù khách hàng nhận được các yếu tố hữu hình là những tờ giấy (ấn chỉ, Hợp đồng bảo hiểm) trên đó có in logo của doanh nghiệp, tên gọi của sản phẩm, những điều kiện, điều khoản của sản phẩm… nhưng khách hàng không thể cảm nhận được mầu sắc, kích thước hay mùi vị của sản phẩm, khách hàng không cảm nhận được sản phẩm bằng các giác quan của mình. Tính vô hình của sản phẩm làm cho khách hàng khó nhận thấy sự khác nhau giữa sản phẩm của các DNBH. Việc đánh giá chất lượng của sản phẩm BHXCG chỉ xảy ra khi có các sự kiện bảo hiểm làm phát sinh trách nhiệm bồi thường, chỉ lúc đó khách hàng mới có thể so sánh được chất lượng sản phẩm của các DNBH.
Vì vậy, trong quá trình kinh doanh dịch vụ, sản phẩm này, doanh nghiệp cần phải tập trung vào nâng cao hiệu quả công tác sau bán hàng. Tính không thể tách rời và không thể cất giữ “Việc tạo ra sản phẩm BHXCG trùng với việc tiêu dùng sản phẩm đó (quá trình cung ứng và quá trình tiêu thụ là một thể thống nhất), thêm vào đó sản phẩm này cũng không thể cất giữ được, nghĩa là khả năng sử dụng sản phẩm BHXCG vào một thời điểm nào đó sẽ không thể cất vào kho dự trữ để sử dụng vào một thời điểm khác trong tương lai. 12 Tính không tách rời và không thể cất giữ đòi hỏi doanh nghiệp muốn phát triển kinh doanh cần chú trọng nâng cao năng lực của đội ngũ kinh doanh và năng lực của mạng lưới kênh phân phối (khả năng nắm bắt tâm lý, nhu cầu khách hàng để phát triển doanh thu). Tính không đồng nhất Dịch vụ (Sản phẩm) BHXCG được thực hiện bởi con người, từ hoạt động bán hàng đến hoạt động chăm sóc khách hàng, xử lý tổn thất khi có sự kiện bảo hiểm.
Vì do con người thực hiện nên khó có sự nhất quán, đồng đều trên toàn đội ngũ, chất lượng phục vụ của một cá nhân tại mỗi thời điểm khác nhau là khác nhau, giữa các nhân viên trên cùng địa bàn hoặc trên các địa bàn khác nhau là khác nhau, phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, sức khỏe, các yếu tố xung quanh của nhân viên. Do vậy để nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo sự đồng nhất về chất lượng, DNBH cần chú trọng đến công tác tuyển chọn, đào tạo nâng cao năng lực, kỹ năng của đội ngũ bán hàng, chăm sóc khách hàng.