Chương 1 đã thể hiện tính cấp thiết của đề tài bằng cách chỉ ra tầm quan trọng của việc nghiên cứu về quyết định mua BHNT. Điều này giúp đọc giả hiểu vì sao đề tài này quan trọng và có giá trị nghiên cứu. Đồng thời đã xác định mục tiêu của nghiên cứu, và đưa ra các câu hỏi nghiên cứu cụ thể mà bạn sẽ trả lời trong luận văn. Cùng với đó là xác định phạm vi của nghiên cứu, cụ thể là bạn sử dụng dữ liệu khảo sát của các khách hàng cá nhân.
Chương này cũng đã nêu rõ phương pháp chính mà tác giả sử dụng để nghiên cứu và xử lý dữ liệu. Ngoài ra cũng đã chỉ ra những đóng góp cụ thể của đề tài, đặc biệt là khả năng cung cấp thông tin hữu ích cho các công ty BHNT và cơ quan quản lý, góp phần kiểm soát và cải thiện hoạt động của thị trường bảo hiểm tại Việt Nam. Cuối cùng, tác giả đã tóm tắt cấu trúc tổ chức nội dung từng chương trong luận văn. Điều này giúp đọc giả nắm bắt được trọng tâm tổ chức của luận văn và có cái nhìn tổng quan về nội dung sẽ được trình bày.
LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ 2. Khái niệm Theo Harriett (1999) cho rằng BNHT được định nghĩa là một biện pháp nhằm chia sẻ rủi ro và tích lũy tài chính thông qua một hợp đồng được thỏa thuận giữa người mua bảo hiểm và công ty bảo hiểm, trong đó người mua phải chấp nhận bỏ ra một số loại phí nhất định và đổi lại công ty bảo hiểm phải đảm bảo các quyền lợi của người được bảo hiểm trong một thời gian theo các quy định được hai bên thống nhất trong hợp đồng bảo hiểm. Theo Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2022 quy định thì BHNT được hiểu như loại hình bảo hiểm thể hiện một cam kết giữa người mua bảo hiểm với công ty bảo hiểm, cụ thể công ty bảo hiểm phải đảm bảo trách nhiệm chi trả số tiền bảo hiểm đối với trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc tử vong, và người mua bảo hiểm phải có nghĩa vụ hoàn thành các khoản phí bảo hiểm theo đúng thời hạn.
Theo Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam (2011) thì BHNT có thể hiểu trên hai phương diện chính là về mặt pháp lý và kỹ thuật: Thứ nhất về pháp lý: BHNT là một bản hợp đồng trong đó để người tham gia bảo hiểm (hay người ký kết hợp đồng) nhận được số tiền bảo hiểm (hay số tiền bồi thường) thì bên bảo hiểm phải cam kết sẽ trả cho một hay nhiều người thụ hưởng khác với một số tiền bảo hiểm nhất định hoặc những khoản trợ cấp đi kèm trong trường hợp người được bảo hiểm không may xảy ra các vấn đề rủi ro như tử vong, tai nạn, v.v hay người được bảo hiểm sống đến một thời điểm được quy định trong hợp đồng. Thứ hai về kỹ thuật: BHNT là loại nghiệp vụ bao hàm những quy định, quyền lời mà sự thi hành thuộc chủ yếu dựa vào sức khỏe, tuổi thọ của con người. Có thể thấy với từng quan điểm khác nhau sẽ có những định nghĩa riêng về BHNT, nhưng chung quy lại BHNT có thể được hiểu đơn giản là quá trình bảo hiểm các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ con người cho hai sự kiện hoàn trái ngược nhau, đó là sống và tử vong. Các loại hình bảo hiểm nhân thọ Trên thực tế theo phạm vi bảo hiểm, BHNT sẽ chia thành các loại hình với từng sự kiện bảo hiểm, đặc điểm và mục đích khác nhau (Đặng Văn Dân, 2018): Biểu đồ 2.1: Các loại hình hiểm BHNT Sản phẩm BHNT BH biến cố BH biến cố BHNT hỗn tử vong tồn tại hợp Tử kỳ Sinh kỳ thuần tý BHNT Niên kim trọn đời Nguồn: Đặng Văn Dân (2018) Tử kỳ (BHNT có thời hạn) Sự kiện bảo hiểm: Người được bảo hiểm mất (tử vong) trong thời gian đã quy định trong hợp đồng bảo hiểm.
Đặc điểm: Thời hạn bảo hiểm được quy định rõ ràng; trách nhiệm và quyền lợi chỉ mang tính tạm thời; mức phí bảo hiểm tương đối thấp so với các loại BHNT khác. Mục đích: Đảm bảo chi phí mai táng; bảo trợ cho gia đình, người thân với số tiền chi trả được quy định trong hợp đồng; v.v BHNT trọn đời (BHNT trƣờng sinh) Sự kiện bảo hiểm: Người được bảo hiểm mất (tử vong) vào bất kỳ lúc nào kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực thi hành. Đặc điểm: Thời hạn bảo hiểm không xác định; phí bảo hiểm đóng một lần hoặc theo định kỳ, số tiền BH được chi trả một lần khi sự kiện bảo hiểm xảy ra; mức phí bảo hiểm cao hơn so với Tử kỳ. Mục đích: Đảm bảo chi phí mai táng; tích lũy vốn cho thế hệ mai sau; v.v Sinh kỳ thuần tý Sự kiện bảo hiểm: Người được bảo hiểm tồn tại (sống) khi kết thúc hợp đồng 8 Đặc điểm: Thời hạn bảo hiểm được quy định rõ ràng; nếu người được bảo hiểm tử vong trong thời gian hợp đồng, số tiền bảo hiểm không được chi trả, chỉ hoàn toàn bộ phí; trường hợp người tham gia bảo hiểm trong thời gian đang đóng phí thì toàn bộ quyền lợi bảo hiểm vẫn được duy trì.
Mục đích: Đảm bảo thu nhập cho người được bảo hiểm sau một thời gian nhất định. Niêm kim Sự kiện bảo hiểm: Người được bảo hiểm tồn tại. Đặc điểm: Trợ cấp định kỳ cho người được bảo hiểm trong thời gian xác định hoặc đến khi mất; phí bảo hiểm đóng định kỳ; người mua niêm kim cũng là người được bảo hiểm. Mục đích: Đảm bảo thu nhập cố định khi về hưu; giảm bớt phụ thuộc vào phúc lợi xã hội và con cái.
BHNT hỗn hợp Sự kiện bảo hiểm: Người được bảo hiểm mất (tử vong) hoặc tồn tại. Đặc điểm: Số tiền bảo hiểm được hoàn trả khi kết thúc hợp đồng hoặc người được bảo hiểm tử vong trong thời hạn bảo hiểm; thời hạn bảo hiểm xác định rõ ràng; phí bảo hiểm đóng định kỳ và cố định; có thể được chia bảo tức thông qua hình thức đầu tư phí bảo hiểm và cũng có thể được hoàn phí khi không có điều kiện tiếp tục tham gia. Mục đích: Đảm bảo ổn định cuộc sống gia đình và người thân; tạo lập quỹ tiết kiệm tài chính; dùng làm tài sản thế chấp vay vốn. Lợi ích của bảo hiểm nhân thọ Điều quan trọng hàng đầu khi tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm là người tham gia cần phải luôn chú trọng và xem xét đến quyền lời hay lợi ích mà họ có thể nhận được.
Theo Trần Thị Thùy Linh và cộng sự (2021) thì bảo hiểm nhân thọ mang lại cho người tham gia bảo hiểm một số lợi ích nhất định như sau: BHNT nhằm bảo vệ người tham gia bảo hiểm, chia sẻ những rủi ro liên quan đến các vấn đề về sức khỏe như hỗ trợ phí nằm viện, phẫu thuật hoặc các bệnh hiểm nghèo như ung thư, đột quỵ, v.v thông qua cam kết chi trả một số tiền theo một tỷ lệ nhất định đã được quy định trong hợp đồng. 9 BHNT là một hình thức tiết kiệm dài hạn, giải pháp tích lũy, giúp người tham gia có thể đảm bảo nguồn tài chính nhằm xây dựng tương lai vững vàng, ổn định cho bản thân và gia đình. BHNT như một giải pháp giảm gánh nặng cho ngân sách quốc gia trong việc giảm thiểu chi phí cho chăm lo cho người cao tuổi và đảm bảo nguồn tài chính cho những người phụ thuộc khi các rủi ro không may xảy ra với những người trụ cột trong gia đình. Các lý thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 2.
Mô hình lý thuyết về hành vi ngƣời tiêu dùng Hành vi của người tiêu dùng là một vấn đề rất quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành bại của một tổ chức, do đó những khái niệm về hành vi người tiêu dùng đã ra đời từ rất sớm, chủ yếu dựa trên quan điểm từng quốc gia, ngành nghề, chủ thể và mục đích sử dụng. Theo Schiffman& Kanuk (2005) cho rằng hành vi người tiêu dùng được hiểu là toàn bộ hành động được biểu hiện trong quá trình quyết định mua hay loại bỏ sản phẩm gồm: tìm hiểu, mua sắm, sử dụng và đánh giá sản phẩm, dịch vụ. Theo đó quá trình ra quyết định mua của người tiêu dùng sẽ bao gồm 5 giai đoạn chính (Philip Kotler, 2005): Tìm kiếm thông Đánh giá, so sánh Nhận biết nhu cầu tin sản phẩm Đánh giá sau khi Quyết định mua sử dụng Hình 2.1: Quá trình ra quyết định mua Nguồn: Philip Kotler (2005). Mô hình lý thuyết hành động hợp lí (TRA) Học thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được xây dựng từ năm 1967 bởi hai nhà tâm lý học Fishbein và Ajzen, được hiệu chỉnh và mở rộng theo thời gian, đây là mô hình nghiên cứu rất phổ biến về tâm lý xã hội.
Trong mô hình lý thuyết này, biểu hiện hành vi cụ thể của một người được xác định bởi thái độ cá nhân (Attitude) và các yếu tố xã hội hoặc quy chuẩn chủ quan (Subjective Norm) của người đó. Ngoài ra, các yếu tố khác trong môi trường bên ngoài chỉ có ảnh hưởng gián tiếp đến hành vi thông qua ảnh hưởng của chúng đến thái độ cá nhân và quy chuẩn chủ quan. Các niềm tin và Thái độ sự đánh giá Ý định hành vi Hành vi thực sự Niềm tin quy Quy chuẩn chuẩn và động chủ quan cơ Hình 2.2: Thuyết hành động hợp lí (TRA) Nguồn: Fishbein và Ajzen (1975). Tuy nhiên, lý thuyết hành động hợp lý TRA cũng bị hạn chế trong trường hợp giải thích cho việc thực hiện hành vi theo thói quen hay hành động không có ý thức, đó cũng chính là lý do có sự ra đời của lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) nhằm khắc phục những hạn chế này.
Mô hình lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) Lý thuyết (TPB - Theory of Planned Behaviour) được ra đời bởi Ajzen (1991) nhằm khắc phục những hạn chế từ lý thuyết hành động hợp lý TRA bằng cách bổ sung thêm vào mô hình nhân tố nhận thức về kiểm soát hành vi. Dựa vào mô hình 2.3 ta có thể thấy được lý thuyết TPB bao gồm tập hợp giữa các mối quan hệ giữa: Thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi và dự định hành vi. 11 Các niềm tin và Thái độ sự đánh giá Niềm tin quy Quy chuẩn chuẩn và động Ý định hành vi Hành vi thực sự chủ quan cơ Các niềm tin Nhận thức kiểm soát và sự kiểm soát dễ dàng cảm hành vi nhận Hình 2.