chương 1, tác giả vạch rõ hơn được những vấn đề cần được giải quyết và tạo định hướng nghiên cứu cho các chương tiếp theo. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Các khái niệm liên quan 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ứng dụng hẹn hò Sự ra đời của máy tính cá nhân vào cuối những năm 1980 đã cho phép truy cập Internet rộng rãi vào vô số các trang web hẹn hò thuộc sở hữu thương mại. Kể từ khi hẹn hò trực tuyến chính thống xuất hiện vào những năm 1990, các trang web hẹn hò đã phát triển các danh mục kinh doanh mới để phân biệt việc sử dụng và ứng dụng: (1) các trang web quảng cáo cá nhân trực tuyến; (2) các trang web phù hợp dựa trên thuật toán; và (3) dựa trên điện thoại thông minh ứng dụng hẹn hò (Finkel và cộng sự, 2012).
Một trong những ứng dụng hẹn hò đầu tiên trên thế giới phải kể đến chính là Match.com được biết đến là thế hệ đầu tiên tiên phong hẹn hò trực tuyến được đi vào hoạt động năm 1995.com trở nên nổi tiếng hơn trên Internet dành cho những người độc thân nhờ vào việc được đăng tải trên tạp chí Wired. IAC( InterActiveCorp) đã mua lại Match.com vào năm 1999 và đến năm 2014 được chuyển thành Match Group - công ty do IAC phát triển cho các thương hiệu hẹn hò của họ. Ứng dụng hẹn hò này nhanh chóng thành công ở thị trường quốc tế như Vương Quốc Anh, Úc hay Canada. Tính đến năm 2018, khoảng hơn 24 quốc gia đã sử dụng ứng dụng hẹn hò Match.
Thế hệ thứ hai bắt đầu vào năm 2000 khi eHarmony giới thiệu khái niệm đối sánh trực tuyến “dựa trên khoa học” hoặc đối sánh dựa trên thuật toán. Định dạng này yêu cầu người dùng cung cấp dữ liệu cá nhân, chẳng hạn như sở thích, tính cách, giá trị và đặc điểm mong muốn. Với một khoản phí hàng tháng, các nhà khoa học xã hội và hành vi xử lý dữ liệu để xác định các kết quả phù hợp dựa trên một thuật toán toán học (Finkel và cộng sự, 2012). Thế hệ thứ ba, thuộc loại Tinder, được biết đến như một ứng dụng di động tự chọn.
Các trang web tự chọn cho phép mọi người duyệt qua hồ sơ 6 của các đối tác tiềm năng từ dân số chung ở khu vực lân cận bằng cách sử dụng dựa trên vị trí phần mềm (Finkel, et al. Thể loại hẹn hò trực tuyến này được phát triển vào khoảng năm 2008, ngay sau khi Apple Inc. giới thiệu App Store cho tất cả các thiết bị di động iPhone. Các trang web tự chọn thường xuyên được tung ra với các trang mạng xã hội rộng lớn hơn, như Facebook, và đang trở nên cực kỳ phổ biến (Finkel và cộng sự, 2012).2 Khái niệm về ứng dụng hẹn hò Phần mềm ứng dụng (Theo Wikipedia) là một loại chương trình có khả năng làm cho thiết bị điện tử thực hiện trực tiếp một công việc nào đó người dùng muốn thực hiện.
Điều này khác với phần mềm hệ thống tích hợp các chức năng của thiết bị, nhưng có thể không trực tiếp thực hiện một tác vụ nào có ích cho người dùng. Phần mềm ứng dụng chia làm hai loại: Tiện ích và Công cụ Ứng dụng hẹn hò là phần mềm được tạo ra để kết nối mọi người đến gần nhau hơn. Khi sử dụng ứng dụng hẹn hò, người dùng có thể tìm kiếm đối tượng không phân biệt giới tính, độ tuổi, khoảng cách địa lý, màu da, tầng lớp xã hội. Theo Treena Orchard, “Ứng dụng hẹn hò được định nghĩa là ứng dụng phần mềm được thiết kế để tạo kết nối giữa những người quan tâm đến chuyện tình cảm, tình dục hoặc tình bạn.” Cho rằng việc tạo dựng các mối quan hệ thông qua hệ thống trực tuyến dễ dàng hơn, nhanh hơn và thân mật hơn so với các cách hình thành mối quan hệ lãng mạn khác (Walther, J.T, Toma, C và Ellison, N (2007) ứng dụng hẹn hò trực tuyến “Là nơi các cá nhân tạo, lập hồ sơ và bắt đầu liên hệ với những người khác thông qua một dịch vụ trực tuyến.” Các tác giả tuyên bố, “người dùng của các trang web và ứng dụng hẹn hò trực tuyến có thể chọn những khía cạnh nào của bản thân mà họ thể hiện với những người khác, cả khi tạo hồ sơ hẹn hò trực tuyến của họ và khi giao tiếp với đối tượng tiềm năng thông qua các trang web hoặc ứng dụng hẹn hò trực tuyến ”(Hance, Blackhart và Dew 2018, trang 422).
Hơn nữa, nếu các mối quan hệ được hình thành thông qua Internet trên thực tế vượt trội hơn so với những mối quan hệ được hình thành thông qua các phương tiện thông thường hơn, thì sự phổ biến ngày càng tăng của các trang 7 web hẹn hò trực tuyến có khả năng thúc đẩy hạnh phúc và giảm đau khổ lớn và chi phí liên quan đến mối quan hệ xa cách và tan rã (Amato & DeBoer, 2001). Theo nghiên cứu của Finkel, Eastwick, Karney, Reis và Sprecher (2012), nghiên cứu của họ đã chỉ ra rằng có ba khía cạnh của hẹn hò trực tuyến cung cấp giúp thúc đẩy kết quả tốt hơn so với hẹn hò ngoại tuyến thông thường là phạm vi tiếp cận rộng, phương thức giao tiếp, và sự sẵn có của các hệ thống đối sánh. Xét về quy mô truy cập lớn, Internet cung cấp nhiều đối tác tiềm năng hơn bất kỳ thành viên gia đình, bạn bè hoặc phương tiện truyền thống nào có thể giới thiệu với một người. Hơn nữa, bằng cách sử dụng Internet, người dùng có thể biết thông tin về các đối tác tiềm năng của họ.
Một số ứng dụng và trang web hẹn hò có thể kết nối với các trang mạng xã hội cá nhân như Facebook (Gibbs, Ellison, & Lai, 2011), Instagram hoặc sở thích âm nhạc như Spotify. Về phương diện giao tiếp, hẹn hò trực tuyến tạo cơ hội cho mọi người giao lưu với nhau trước khi gặp mặt trực tiếp. Mọi người có thể liên lạc với nhau bằng cách nhắn tin, tin nhắn thoại, cuộc gọi video hoặc dựa trên âm thanh.3 Ƣu điểm và hạn chế của ứng dụng hẹn hò Sự phát triển của công nghệ và Internet là cơ hội để các ứng dụng hẹn hò ngày càng phát triển như Tinder, Bumble, Badoo, Facebook Dating, Match… Sự hữu ích khi chỉ cần tạo hồ sơ ngắn và một vài bức ảnh yêu thích kèm sở thích. Chỉ cần vài thao tác quẹt sang trái/phải, người dùng có thể dễ dàng kết đôi cùng với đối tác tiềm năng.
So với phương thức tìm kiếm truyền thống tốn nhiều thời gian và công sức, các ứng dụng hẹn hò lại tiết kiệm và nhanh chóng hơn. Julie Spira, người điều hành Chuyên gia hẹn hò trên mạng cho biết - “bởi vì sự gia tăng mức độ sử dụng điện thoại thông minh nên nó liên quan trực tiếp đến việc sử dụng các ứng dụng hẹn hò”. Tuy vậy ngoài những lợi ích mà ứng dụng hẹn hò mang lại thì cũng kèm theo những nhược điểm đã được tác giả phân tích cụ thể. 8 Hình 1: Ƣu điểm và hạn chế của ứng dụng hẹn hò Ƣu điểm Hạn chế ● Không có khoảng cách về địa lý ● Dễ bị lừa khi nhiều người dùng đã và nền văn hóa có gia đình hoặc người yêu nhưng ● Tiết kiệm thời gian và công sức vẫn lên ứng dụng hẹn hò tìm đối trong quá trình tìm hiểu đối tượng mới.
phương ● Thông tin người dùng có thể bị ● Có nhiều sự lựa chọn về đối giả mạo để lừa gạt tượng hẹn hò theo giới tính, độ ● Người dùng thiếu trung thực khi tuổi, ngoại hình. cập nhập thông tin như độ tuổi, ● Dễ sử dụng, không ngừng đổi mới học vấn. và phát triển để phù hợp với nhu cầu của người dùng ● Giải quyết được nhu cầu về sự cô đơn hay vấn đề tình dụng cho người dùng có nhu cầu Nguồn: Tác giả tổng hợp 2.4 Khái niệm về quyết định sử dụng Theo Ajzen (1991), quyết định là một yếu tố dùng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi trong tương lai, quyết định là một yếu tố tạo động lực, nó thúc đẩy cá nhân sẵn sàng thực hiện hành vi và bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Quyết định hành vi được giả định là tiền đề trung gian của hành vi, nghiên cứu về quyết định sử dụng sẽ dự đoán tốt hơn với hành vi sử dụng.
Theo Scheer (2004), quyết định là một trạng thái tinh thần, thường có sức mạnh nhân quả. Sự quyết tâm, của một người hoặc sự lo lắng, háo hức của người đó, như những 'sức mạnh' thúc đẩy chúng ta. Có những đặc điểm khác của quyết định mà 9 trạng thái tinh thần của quyết định không có chung. Quyết định không có các đặc điểm thời gian mà trạng thái tinh thần có, hoặc chia sẻ sự phụ thuộc bối cảnh gây tò mò mà quyết định có.
Do các trạng thái tinh thần hoạt động theo quan hệ nhân quả, nên một người sẽ không thể cam kết thực hiện một quá trình hành động như chúng ta thường làm khi hứa hoặc ký một thỏa thuận hoặc hợp đồng.5 Khái niệm về thế hệ gen Z Theo Ivy Wigmore, Thế hệ Gen Z là nhóm nhân khẩu học được biết đến rộng rãi nhất hiện nay. Đây là nhóm người được sinh ra trong khoảng thời gian từ năm 1995 đến năm 2012. Những người thuộc thế hệ Gen Z là những người được tiếp xúc với Internet và công nghệ từ khi sinh ra. Đặc biệt đối với các thành viên nhỏ tuổi của nhóm đã sử dụng máy tính bảng khi họ còn chập chững biết đi và không hình dung được một thế giới không sử dụng điện thoại thông minh.
Theo dữ liệu được công bố đến năm 2015, 77% độ tuổi từ 12 đến 17 ở Hoa Kỳ sở hữu điện thoại di động Apple hoặc Android. Không có gì ngạc nhiên khi nhắn tin là phương thức giao tiếp ưa thích của nhóm thuần tập, sau đó là tương tác trên mạng xã hội. Với hơn hai tỷ cá nhân, Thế hệ Gen Z là nhóm thế hệ đông dân nhất mọi thời đại và các nhà bán lẻ đang cảm thấy khó khăn trong việc nắm bắt sức mạnh chi tiêu ngày càng tăng của họ. Phần lớn những rắc rối mà các nhà bán lẻ đang gặp phải liên quan đến việc bắt kịp tốc độ các thói quen mới trên mạng xã hội đang hình thành và ảnh hưởng đến cách thức mua sắm của thế hệ này.
Các thành viên Thế hệ Gen Z lớn tuổi sẵn sàng cung cấp thông tin cá nhân cho nhà cung cấp, nhưng họ mong đợi sự minh bạch về cách thông tin đó sẽ được sử dụng.2 Các mô hình lý thuyết liên quan 2.