CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 1.1 Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ Theo quan điểm rộng rãi của kiểm soát nội bộ, nó bao gồm tất cả các khía cạnh của một tổ chức và có nhu cầu rõ ràng về một phương pháp kết hợp các khái niệm kiểm soát với nhau để tạo thành một khuôn khổ kiểm soát nội bộ tích hợp. Các khuôn khổ nổi tiếng (COSO, CoCo, …) bao gồm định nghĩa về kiểm soát nội bộ hiệu quả và trình bày các thành phần của cấu trúc kiểm soát nội bộ. Ví dụ COSO (1994) tuyên bố rằng kiểm soát nội bộ có thể được đánh giá là có hiệu quả khi ban giám đốc và ban giám đốc có những đảm bảo hợp lý rằng họ hiểu được mức độ đạt được các mục tiêu hoạt động của đơn vị, các báo cáo tài chính đã công bố được lập một cách đáng tin cậy và các luật và quy định hiện hành đang được tuân thủ. Cấu trúc kiểm soát nội bộ thích hợp được mô tả theo các thuật ngữ khác nhau, nhưng có năm yếu tố xác định như sau: 1.
Môi trường kiểm soát (COEN): xác định các đặc tính của một tổ chức và cách nó hoạt động. Thành phần này tạo ra một bầu không khí chung trong đó mọi người có thể tiến hành các hoạt động của họ và thực hiện trách nhiệm kiểm soát của họ. Chính môi trường kiểm soát làm nền tảng cho các thành phần khác của kiểm soát nội bộ. Những yếu tố chính của môi trường kiểm soát gồm tính chính trực và giá trị đạo đức, cam kết về năng lực, sự tham gia của ban quản trị, triết lý quản lý và phong cách điều hành, cơ cấu tổ chức, phân định quyền hạn và trách nhiệm, chính sách và thông lệ nhân sự.
Đánh giá rủi ro (RISK): Không lệ thuộc vào quy mô, cấu trúc, loại hình hay vị trí địa lý. Bất kỳ doanh nghiệp nào trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng đều phải đối mặt với rủi ro. Những rủi ro này có thể do bản thân DN hay từ môi trường kinh tế, chính trị, xã hội bên ngoài tác động, do vậy mỗi đơn vị phải ý thức được và đối phó với rủi ro mà mình gặp phải. Tiền đề cho việc đánh giá rủi ro là việc đặt ra mục tiêu (bao gồm mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động của doanh nghiệp).
Đánh giá rủi ro là việc nhận dạng và phân tích các rủi ro đe dọa đến các mục 5 tiêu của mình. Trên cơ sở nhận dạng và phân tích các rủi ro, nhà quản lý sẽ xác định rủi ro nên được xử lý như thế nào 3. Hoạt động kiểm soát (COAC): đề cập đến các chính sách, thủ tục và thông lệ đảm bảo cho Ban quản trị rằng các mục tiêu đạt được và các chiến lược giảm thiểu rủi ro được thực hiện một cách hiệu quả. Hoạt động kiểm soát gồm những hoạt động như: phê chuẩn, ủy quyền, xác minh, đối chiếu, đánh giá hiệu quả, bảo vệ tài sản và phân công nhiệm vụ.
Hoạt động kiểm soát diễn ra chủ yếu trong DN gồm: Soát xét của nhà quản lý (bao gồm cả cấp cao và cấp trung gian); Phân chia trách nhiệm theo nguyên tắc bất kiêm nhiệm; Ủy quyền cho người có thẩm quyền phê chuẩn các nghiệp vụ một cách thích hợp; Kiểm soát quá trình xử lý thông tin gồm kiểm soát chung và kiểm soát ứng dụng; Kiểm soát vật chất; Phân tích rà soát. Thông tin và truyền thông (INFO): Các thông tin cần thiết phải được nhận dạng, thu thập và trao đổi trong đơn vị dưới hình thức và thời gian thích hợp sao cho nó giúp mọi người trong đơn vị thực hiện được nhiệm vụ của mình. Thông tin và truyền thông tạo ra báo cáo, chứa đựng các thông tin cần thiết cho việc quản lý và kiểm soát đơn vị. Sự trao đổi thông tin hữu hiệu đòi hỏi phải diễn ra theo nhiều hướng: Từ cấp trên xuống cấp dưới, từ dưới lên trên và giữa các cấp với nhau.
Giám sát (MONI): đề cập đến một quá trình đánh giá chất lượng của việc kiểm soát. Nó bao gồm các đánh giá liên tục và định kỳ về việc giám sát bên ngoài đối với các kiểm soát nội bộ của Ban quản trị hoặc các bên khác.2 Khái niệm về lý thuyết quyền biến Lý thuyết quyền biến là một lý thuyết về tổ chức tuyên bố rằng không có cách tốt nhất để tổ chức, lãnh đạo một công ty hoặc đưa ra quyết định. Thay vào đó, quá trình hành động tối ưu tùy thuộc vào tình hình bên trong và bên ngoài công ty. Một nhà lãnh đạo đội ngũ áp dụng hiệu quả phong cách lãnh đạo của riêng họ vào các tình huống phù hợp.
Theo sách Images of Organization (Hình ảnh của tổ chức) của Gareth Morgan đã tóm tắt những ý tưởng chính ẩn dưới những tình huống ngẫu nhiên: 6 o Các tổ chức là các hệ thống mở cần quản lý cẩn thận để đáp ứng và cân bằng các nhu cầu nội bộ cũng như thích ứng với hoàn cảnh môi trường o Không có cách tổ chức nào là tốt nhất. Hình thức tổ chức phù hợp phụ thuộc vào loại công việc hoặc môi trường mà tổ chức đang giải quyết o Quản lý phải được quan tâm trên hết, với việc đạt được sự liên kết và hòa hợp o Các loại môi trường khác nhau cần các loại tổ chức khác nhau Theo Scott (1981) mô tả Lý thuyết quyền biến: “Cách tổ chức tốt nhất phụ thuộc vào bản chất của môi trường liên quan tới tổ chức”. Ủng hộ ý kiến này có các nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác bao gồm Lawrence, Lorsch J. Các tác giả quan tâm nhiều hơn đến tác động của các tình huống ngẫu nhiên đối với cơ cấu tổ chức.
Lý thuyết quyền biến theo cấu trúc là mô hình chi phối các lý thuyết cấu trúc tổ chức trong những năm 1970, Pennings J., người đã kiểm tra sự tương tác giữa sự bất ổn của môi trường, cấu trúc tổ chức và các khía cạnh khác nhau của hiệu suất, đã thực hiện một thử nghiệm thực nghiệm quan trọng. Nghiên cứu thực nghiệm trên mẫu của các văn phòng môi giới bán lẻ, trong đó các khía cạnh của môi trường thị trường như sự cạnh tranh, những thay đổi và các nguồn lực với các thỏa thuận về tổ chức như các khuôn mẫu ra quyết định, phân bổ quyền lực được đặt cạnh nhau để xem xét về mặt hiệu suất. Trong khi các thuộc tính cấu trúc của các văn phòng ảnh hưởng mạnh đến hiệu suất, bằng chứng cho sự ảnh hưởng của "các tình huống ngẫu nhiên" lại ít rõ ràng hơn. Có thể kết luận rằng không có cách nào là tốt nhất để quản lý hoặc thực hiện mọi thứ.
Tình huống khác nhau đòi hỏi cách tiếp cận khác nhau để xử lý, quản lý và giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan. Quản lý và tổ chức là một “Hệ thống mở”, trong đó luôn luôn phải đối mặt với những bất thường hoặc thách thức, đòi hỏi phải có giải pháp phù hợp theo từng tình huống để khắc phục hoặc giải quyết một vấn đề hoặc các sự cố liên quan. Các yếu tố thuộc về tình huống hoặc mang tính ngẫu nhiên khác là “sự thay đổi nhu cầu của khách hàng đối với hàng hóa và dịch vụ, thay đổi chính sách hoặc luật pháp của chính phủ, thay đổi môi trường hoặc biến đổi khí hậu, …” 7 Các nghiên cứu trước đây (Fisher 1995; Gerdin 2005) đã lưu ý rằng một hệ thống kiểm soát có thể phải được điều chỉnh cho phù hợp với nhiều đặc điểm bối cảnh và đôi khi mâu thuẫn nhau. Có bằng chứng trong các nghiên cứu trước đó cho thấy những đặc điểm này có một số tác động đến việc thiết kế cấu trúc điều khiển và đến hiệu suất như Chenhall 2003; Donaldson 2001; Hoque và James 2000; Macintosh 1994; Simons 1987; Drazin và Van de Ven 1985; Otley 1980.
Tuy nhiên, việc lựa chọn các đặc điểm có thể không phải là tập hợp các biến duy nhất có thể ảnh hưởng đến cấu trúc kiểm soát nội bộ nhưng các đặc điểm được coi là có liên quan và được kiểm tra rộng rãi trong các tài liệu về kiểm soát (Chenhall 2003).3 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ 1.1 Các nghiên cứu tại Việt Nam Đề tài “Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường quản lý tài chính tại Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam” của Ngô Trí Tuệ và cộng sự (2004) tập trung nghiên cứu, thiết kế và vận hành HTKSNB phù hợp với đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp. Nghiên cứu của Phạm Bính Ngọ (2011) về “Tổ chức HTKSNB trong các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòng” đã nêu được tổ chức KSNB theo đặc điểm của các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòng, đồng thời đã chỉ ra được kinh nghiệm của các nước quốc tế như: Hoa Kỳ, Canada, Trung Quốc, Ba Lan, Hàn Quốc về tổ chức kiểm soát ngân sách trong các đơn vị quân đội. Tác giả cũng nêu rõ một số hạn chế trong KSNB tại các đơn vị như: nhận thức về HTKSNB của một số lãnh đạo chưa đầy đủ, phân cấp quản lý chưa đi đôi với quyền hạn và trách nhiệm, đội ngũ cán bộ có trình độ không đồng đều, hoạt động kiểm soát thiếu sự đồng bộ, hệ thống định mức không đầy đủ. Xác định nguyên nhân của hạn chế về HTKSNB như: cơ sở pháp lý về tổ chức hoạt động của HTKSNB chưa hình thành đồng bộ, trình độ hiểu biết HTKSNB còn hạn chế, công tác chỉ đạo và kiểm tra còn thiếu cụ thể và chưa rõ ràng.
Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện như: xác định mô hình tổ chức HTKSNB, tạo dựng môi trường kiểm soát khoa học và có hiệu lực, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra tài chính, hoàn thiện hệ thống thông tin và thủ tục kiểm soát. 8 Tuy nhiên, đề tài còn chưa xác định được mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến HTKSNB, chưa xây dựng được mô hình các nhân tố tác động đến hay các thang đo để đo lường các yếu tố trong HTKSNB.