Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện diện như một trong những thách thức môi trường và kinh tế - xã hội lớn nhất của thế kỷ XXI. Trong xu thế phát triển bền vững dựa trên ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tổn thương nghiêm trọng trước các tác động khí hậu tiêu cực. Dẫn liệu trong văn bản chỉ ra rằng năm 2017, Việt Nam xếp thứ 6 toàn cầu về Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu và ghi nhận mức độ rủi ro cao nhất khu vực Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Đồng thời, báo cáo từ Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) xác định trẻ em Việt Nam đứng thứ 37 thế giới về mức độ dễ bị tổn thương do các hiện tượng cực đoan từ BĐKH gây ra.

Mặc dù chính sách quốc gia luôn nhấn mạnh công tác giảm nhẹ và thích ứng, mức độ hiểu biết thực tế trong cộng đồng còn bộc lộ nhiều khoảng trống. Nghiên cứu của Tô Thị Mỹ Phương (2016) tại Hà Tĩnh, Cà Mau và Quảng Nam ghi nhận 74,2% người dân không có hiểu biết về BĐKH; trong khi khảo sát của Lê Thị Hương cùng cộng sự (2013) tại Thừa Thiên Huế và Hà Tĩnh cho thấy chỉ 0,2% cán bộ y tế dự phòng (trên tổng số 409 người) nhận thức chính xác toàn bộ hậu quả do BĐKH gây ra. Giới trẻ là lực lượng xã hội dồi dào về thể chất, tư duy và đóng vai trò nòng cốt đối với tiến trình phát triển đất nước, song nhận thức của nhóm đối tượng này về các khía cạnh khí hậu vẫn còn hạn chế. Do đó, tác giả Nguyễn Thị Thu Quỳnh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Kinh tế phát triển nhằm đo lường thực trạng và nhận diện các yếu tố tác động đến nhận thức của giới trẻ tại Thủ đô.

Văn bản xác lập mục tiêu nghiên cứu tổng quát là đánh giá thực trạng, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về BĐKH của giới trẻ sinh sống trên địa bàn thành phố Hà Nội, làm căn cứ đề xuất các khuyến nghị can thiệp phù hợp. Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 4 nội dung cụ thể:

  1. Tổng quan tài liệu về BĐKH và các nhân tố tác động đến BĐKH.
  2. Đánh giá nhận thức về BĐKH của giới trẻ.
  3. Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức về BĐKH của giới trẻ Hà Nội.
  4. Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức của giới trẻ về BĐKH.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức của giới trẻ sinh sống trên địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Năm 2021 (tập trung từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2021).
  • Phạm vi nội dung: Thực trạng mức độ hiểu biết và các nhóm yếu tố tác động đến nhận thức đối với vấn đề BĐKH của giới trẻ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về mặt lý luận, đề tài tiếp cận khái niệm thời tiết và khí hậu theo phân định của Bộ Tài nguyên và Môi trường (thời tiết là trạng thái khí quyển tại một thời điểm qua các thông số nhiệt độ, mưa, gió, độ ẩm; khí hậu là trạng thái trung bình theo thời gian, thường tính trong 30 năm). Định nghĩa BĐKH được trích dẫn theo sách chuyên khảo "Ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam" và định nghĩa của Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC). Khái niệm nhận thức được xây dựng trên quan điểm triết học Mác - Lênin (quá trình tiếp thu tri thức thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm, cảm giác) và các góc độ tâm lý xã hội phản ánh hiện thực khách quan vào tư duy để dẫn dắt hành vi.

Khung lý thuyết phân tích nhận thức kế thừa từ mô hình khái niệm của Trần Thị Minh Ngọc (2013) cùng Sisse Liv Jørgensen và cộng sự (2019), mô tả tiến trình tác động từ các yếu tố bên ngoài (biến đổi khí hậu, đặc trưng cá nhân, kinh nghiệm thực tiễn) đến nhận thức, từ đó định hình các hành vi ứng phó (giảm nhẹ, thích ứng hoặc không hành động). Mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm 6 nhóm nhân tố tác động đến nhận thức về BĐKH của giới trẻ Hà Nội:

  • Sự hiểu biết (HB)
  • Sở thích (ST)
  • Nguyên nhân dẫn đến BĐKH (NN)
  • Tác động tiêu cực của BĐKH (TĐ)
  • Biện pháp ứng phó BĐKH (BP)
  • Hoạt động thông tin và truyền thông về BĐKH (TT)

Hệ thống thang đo gồm 33 biến quan sát được thiết kế trên thang đo khoảng Likert 5 mức độ (từ 1: Rất không đồng ý đến 5: Rất đồng ý), kế thừa từ các công trình của Trương Trí Thông và Nguyễn Thị Tường Vi (2020), kết hợp với Trần Bích Vân (2015).

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp:

  • Dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp từ các báo cáo khoa học, số liệu khí tượng quan trắc, văn kiện chính sách (Quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ; Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2011-2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo).
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua điều tra bảng hỏi khảo sát giới trẻ đang sinh sống, học tập và làm việc tại Hà Nội với quy mô mẫu đạt 293 phiếu hợp lệ. Cấu trúc mẫu khảo sát bao gồm: 81 người làm việc trong lĩnh vực liên quan đến môi trường và 212 người thuộc các lĩnh vực không liên quan đến môi trường.
  • Kỹ thuật xử lý và phân tích số liệu: Tiến hành trên phần mềm chuyên dụng thông qua thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình, phương sai, kiểm định giả thuyết thống kê so sánh hai nhóm độc lập với mức ý nghĩa p-value 1%, 5%, 10%); kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (tiêu chuẩn loại biến có tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,3 và hệ số Alpha nhỏ hơn 0,6); phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) với các điều kiện kiểm định KMO (0,5 < KMO < 1), kiểm định Bartlett (Sig < 0,05), hệ số tải nhân tố (Factor Loading > 0,5), tiêu chuẩn Eigenvalue > 1 và tổng phương sai trích đạt trên 50%.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý luận về nhận thức với biến đổi khí hậu

Tác giả phân loại bức tranh nghiên cứu trong và ngoài nước thành ba nhánh chính:

  • Hướng nghiên cứu về BĐKH và tác động: Điển hình với mô hình DICE của William Nordhaus (2018) phân tích tổn thất chi phí carbon và giới hạn nhiệt độ 2°C; Werner Nel và cs (2019) sử dụng chỉ số nhiệt HI đánh giá các bệnh liên quan nhiệt từ dữ liệu thứ cấp 1981-2011; Waleed M. Sweileh (2020) dùng công cụ VOSviewer phân tích 4.247 tài liệu y tế và 1.207 tài liệu Scopus chứng minh mối liên hệ giữa nồng độ CO2, ô nhiễm không khí và sự lan truyền bệnh truyền nhiễm (sốt rét, sốt xuất huyết); Nguyễn Văn Thắng và cs (2010) hệ thống hóa các kịch bản khí hậu Việt Nam; Hà Minh Tuân và cs (2019) khảo sát tác động khí hậu đến sinh kế nông nghiệp huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
  • Hướng nghiên cứu về giáo dục và nhận thức: Robert B. Stevenson và cs (2017) định nghĩa giáo dục BĐKH vượt ra ngoài khuôn khổ lớp học truyền thống; Mary C. Oliver và cs (2020) dùng mô hình hồi quy Logit trên dữ liệu PISA tại 54 quốc gia nhận diện 5 yếu tố chi phối nhận thức của học sinh 15 tuổi; Đỗ Vân Anh (2017) khảo sát học sinh trường THPT Mai Thúc Loan (Hà Tĩnh); Bùi Văn Hiến và cs (2019) khảo sát sinh viên Đại học Huế; Nguyễn Thị Thu Hà (2020) đánh giá kỹ năng thích ứng qua môn Địa lý.
  • Hướng nghiên cứu ứng dụng EFA: Wen Liu và cs (2018) kết hợp EFA và mô hình cấu trúc tuyến tính SEM nghiên cứu rủi ro xây dựng đường hầm tàu điện ngầm Trung Quốc; Hà Nam Khánh Giao (2019) khảo sát 779 khách hàng sử dụng ATM Vietcombank Vĩnh Long; Lê Ngọc Diệp (2019) phân tích sự hài lòng của sinh viên đối với phong trào Đoàn trường ĐH Lâm nghiệp.

Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra là thiếu vắng các công trình định lượng chuyên sâu đo lường nhận thức và các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức BĐKH của giới trẻ tại đô thị đặc thù như Hà Nội. Chương 1 cũng trình bày thực trạng khí hậu tại Việt Nam: năm 2020 ghi nhận 16 đợt nắng nóng gay gắt kéo dài nhất từ năm 1971; mức nhiệt trung bình tháng 6/2020 tại Mường Lay vượt giá trị lịch sử (GTLS) 19,6°C, tại Hà Đông vượt 19,4°C; tốc độ dâng nước biển giai đoạn 1993-2008 là 3mm/năm, tại Trạm hải văn Hòn Dấu dâng 20cm trong 50 năm qua; cùng những thiệt hại thực tế về xâm nhập mặn ở Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh năm 2018-2020.

Chương 2: Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 thuyết minh việc xây dựng mô hình nghiên cứu 6 nhóm nhân tố dựa trên các điều kiện đặc thù của giới trẻ đô thị. Tác giả vận hành hóa thang đo cho từng nhân tố cụ thể: Sự hiểu biết (HB1 đến HB5), Sở thích (ST1 đến ST5), Nguyên nhân dẫn đến BĐKH (NN1 đến NN7), Tác động tiêu cực của BĐKH (TĐ1 đến TĐ5), Biện pháp ứng phó BĐKH (BP1 đến BP6), Hoạt động thông tin và truyền thông (TT1 đến TT5). Quy trình điều tra thực hiện đối với 293 cá nhân, phân tách thành hai nhóm công việc (liên quan đến môi trường: 81 người, không liên quan: 212 người). Quy trình phân tích số liệu được chuẩn hóa từ kiểm định Cronbach's Alpha đến trích xuất nhân tố bằng EFA trên phần mềm xử lý thống kê.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Nội dung chương 3 chia tách thành hai hợp phần: thống kê mô tả thực trạng và kiểm định mô hình định lượng. Về mức độ tiếp cận kênh truyền thông, kết quả chỉ ra Internet (điểm trung bình 8,338; phương sai 2,45) và truyền hình TV (điểm trung bình 8,371; phương sai 2,61) là hai nguồn tiếp cận chủ lực của giới trẻ, vượt trội so với nơi công tác/nơi ở (6,736) và gia đình/bạn bè (6,728).

Nhóm nội dung nhận thức Số lượng (n) Tỷ lệ nhận thức đúng (%) Tỷ lệ nhận thức chưa đúng (%)
Bản chất của BĐKH 210 71,67 28,33
Biểu hiện của BĐKH 190 64,85 35,15
Nguyên nhân của BĐKH 217 74,06 25,94
Tác động của BĐKH 204 69,62 30,38
Biện pháp ứng phó với BĐKH 168 57,34 42,66

Các kết quả thống kê mô tả chi tiết từng khía cạnh:

  • Về bản chất: 71,67% nhận thức đúng; điểm trung bình của nhóm làm việc liên quan đến môi trường đạt 8,45 điểm (nam: 8,65; nữ: 8,24), cao hơn rõ rệt nhóm không liên quan với 6,07 điểm (nam: 5,86; nữ: 6,27).
  • Về biểu hiện: 87,65% nhóm ngành môi trường và 71,70% nhóm ngoài môi trường chỉ ra nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng (p = 0,0024); nhận diện gia tăng thiên tai đạt 86,33% ở nhóm môi trường và 75,80% ở nhóm ngoài môi trường (p = 0,068).
  • Về nguyên nhân: 80,55% xác định đúng BĐKH do cả tự nhiên và nhân tạo. Nhóm môi trường đạt trung bình 9,5 điểm (100% chỉ ra nhiên liệu hóa thạch, 97,53% phá rừng/cháy rừng, 97,53% chuyển đổi đất), trong khi nhóm ngoài môi trường đạt trung bình 6,6 điểm (p = 0,0000).
  • Về tác động: Mức độ nhận diện tác động đến lâm nghiệp cao nhất (99,06%), nông nghiệp (98,06%), tài nguyên nước (93,25%), hệ sinh thái và đa dạng sinh học (85,32%). Đối với sinh hoạt cá nhân, 94,88% người khảo sát xác nhận BĐKH gia tăng bệnh truyền nhiễm, 78,16% chỉ ra suy giảm chất lượng công việc, 68,26% ghi nhận thu nhập sụt giảm, và 12,29% cho rằng tạo cơ hội khởi nghiệp.
  • Về hành động ứng phó: Hoạt động đã thực hiện gồm trồng và chăm sóc cây xanh (82,94%), dọn vệ sinh nơi sinh sống (72,35%), hạn chế/tái sử dụng túi nilon và giấy (53,92%), tiết kiệm điện nước (49,83%), tham gia sự kiện môi trường (44,37%), phân loại rác (43,69%).

Kết quả kiểm định chất lượng thang đo Cronbach's Alpha đã loại bỏ 6 biến quan sát do không đáp ứng tiêu chuẩn thống kê, gồm: HB2, ST1, NN2, NN3, TĐ5, BP6. Còn lại 27 biến quan sát đạt độ tin cậy cao đưa vào phân tích EFA:

Nhóm biến Biến bị loại Hệ số Cronbach's Alpha sau loại biến
Sự hiểu biết (HB) HB2 0,968
Sở thích (ST) ST1 0,886
Nguyên nhân dẫn đến BĐKH (NN) NN2, NN3 0,937
Tác động tiêu cực của BĐKH (TĐ) TĐ5 0,828
Biện pháp ứng phó BĐKH (BP) BP6 0,851
Hoạt động thông tin và truyền thông (TT) Không có 0,890

Phân tích EFA ghi nhận kết quả kiểm định KMO = 0,827 (thỏa mãn 0,5 < KMO < 1); kiểm định Bartlett đạt giá trị Chi-square = 5404,404 với bậc tự do df = 351, mức ý nghĩa Sig = 0,000. Tổng phương sai trích lũy đạt 74,925% tại điểm dừng Eigenvalue > 1, chứng minh 27 biến quan sát giải thích được 74,925% sự biến thiên của 6 nhóm nhân tố. Trọng số nhân tố trong các phương trình thành phần được trích xuất như sau:

  • Nhóm Sự hiểu biết: HB = 0,712 HB1 + 0,705 HB3 + 0,689 HB4 + 0,655 HB5 + 0,599 TT2.
  • Nhóm Nguyên nhân: NN = 0,838 NN4 + 0,812 NN6 + 0,795 NN1 + 0,781 NN5 + 0,754 NN7.
  • Nhóm Biện pháp ứng phó: BP = 0,784 BP3 + 0,762 BP4 + 0,741 BP5 + 0,725 BP2 + 0,711 BP1.
  • Nhóm Sở thích: ST = 0,821 ST5 + 0,810 ST4 + 0,798 ST3 + 0,790 ST2.
  • Nhóm Thông tin truyền thông: TT = 0,778 TT3 + 0,756 TT1 + 0,732 TT5 + 0,714 TT4.
  • Nhóm Tác động tiêu cực: TĐ = 0,758 TĐ2 + 0,745 TĐ3 + 0,724 TĐ1 + 0,712 TĐ4.

Chương 4: Kết luận và kiến nghị

Tác giả tổng hợp các phát hiện chính, đối chiếu mức độ nhận thức theo từng chiều cạnh và khẳng định vai trò của 6 nhóm nhân tố trích xuất từ mô hình EFA. Từ kết quả này, tác giả đưa ra các nhóm khuyến nghị can thiệp cụ thể:

  • Đối với chính quyền địa phương: Chú trọng tuyên truyền kiến thức rác thải, ô nhiễm; định kỳ tổ chức quét dọn vệ sinh (1-2 lần/tháng), trồng cây xanh, phát động cuộc thi; treo bảng hiệu, băng rôn với hình ảnh và thông điệp sáng tạo.
  • Đối với giới trẻ: Chủ động trau dồi tri thức khí hậu, cập nhật diễn biến thời tiết qua Internet và truyền hình; tích cực thực hiện các hành động bảo vệ môi trường hằng ngày (phân loại rác, tiết kiệm năng lượng, trồng cây); tuyên truyền trực tiếp trong gia đình, bạn bè và cộng đồng xung quanh.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại những kết quả định lượng cụ thể phản ánh chân thực nhận thức của giới trẻ Hà Nội năm 2021:

  • Xác lập tỷ lệ nhận thức đúng theo từng nhóm nội dung: tỷ lệ hiểu đúng nguyên nhân đạt mức cao nhất (74,06%), bản chất (71,67%), tác động (69,62%), biểu hiện (64,85%), và thấp nhất là biện pháp ứng phó (57,34%).
  • Khám phá sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê về mặt nhận thức giữa hai khối ngành: nhóm làm việc liên quan đến môi trường luôn đạt điểm đánh giá hiểu biết trung bình cao hơn rõ rệt so với nhóm không làm việc trong ngành môi trường (về bản chất: 8,45 so với 6,07; về nguyên nhân: 9,5 so với 6,6).
  • Tinh lọc hệ thống thang đo từ 33 biến quan sát xuống 27 biến quan sát có độ tin cậy cao thông qua hệ số Cronbach's Alpha (từ 0,828 đến 0,968) và chứng minh mô hình 6 nhân tố trích xuất giải thích được 74,925% phương sai dữ liệu thực tế với chỉ số KMO đạt 0,827.
  • Về mặt lý luận, đề tài đóng góp việc kiểm chứng mô hình cấu trúc các yếu tố chi phối nhận thức BĐKH trong bối cảnh thanh niên đô thị tại một nước đang phát triển. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm giúp chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể thiết kế các chương trình giáo dục môi trường trúng đích, tập trung vào các mắt xích có trọng số tác động cao như truyền thông nơi làm việc (TT3) và giáo dục ý thức cộng đồng (BP3).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra ba giới hạn nội tại phát sinh trong quá trình triển khai:

  1. Hạn chế về nguồn lực và thời gian: Mô hình chỉ mới xem xét các biến số bề mặt, dễ quan sát, chưa thể bao quát toàn bộ các nhân tố tiềm ẩn chi phối nhận thức phức tạp của cá nhân.
  2. Hạn chế về quy mô mẫu: Cỡ mẫu 293 phiếu khảo sát chưa đủ lớn để đại diện hoàn toàn cho tổng thể giới trẻ trên toàn địa bàn Thủ đô; trình độ và kinh nghiệm nghiên cứu của tác giả còn ở mức sơ khởi.
  3. Hạn chế về bối cảnh dịch bệnh: Tình hình dịch bệnh (COVID-19 diễn ra năm 2021) cản trở việc tiếp cận phỏng vấn sâu trực tiếp đối tượng nghiên cứu, phương thức thu thập số liệu gián tiếp làm giới hạn chiều sâu thông tin.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả định hình: Tiếp tục mở rộng quy mô dung lượng mẫu điều tra lớn hơn; mở rộng phạm vi đối tượng khảo sát sang các địa bàn và nhóm xã hội khác; đồng thời bổ sung các biến số tác động mới nhằm nâng cao tính đại diện và khả năng dự báo của mô hình.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng học thuật và ứng dụng:

  • Sinh viên, học viên các ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế môi trường, Quản lý tài nguyên, Công tác thanh niên và Xã hội học: Tài liệu cung cấp mẫu hình nghiên cứu định lượng hoàn chỉnh từ khâu tổng quan tài liệu, thiết kế bảng hỏi Likert, chọn mẫu phân tầng theo nhóm chuyên môn, đến quy trình phân tích Cronbach's Alpha và EFA trên số liệu khảo sát thực tế.
  • Các nhà nghiên cứu và quản lý giáo dục: Bảng tổng hợp thực trạng nhận thức (đặc biệt là tỷ lệ nhận thức về biện pháp ứng phó còn thấp đạt 57,34%) cùng hệ thống các kênh tiếp cận thông tin là dữ liệu cơ sở để xây dựng giáo trình ngoại khóa hoặc chiến dịch truyền thông môi trường học đường.
  • Cán bộ quản lý môi trường và đoàn thể địa phương: Bảng xếp hạng các hành động thực tế đã làm và các phương trình trọng số nhân tố chỉ ra rõ mức độ ưu tiên can thiệp nhằm nâng cao hiệu quả các phong trào bảo vệ môi trường tại cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận sử dụng cỡ mẫu bao nhiêu và cơ cấu mẫu được phân chia như thế nào? Nghiên cứu tiến hành điều tra trên 293 mẫu phiếu khảo sát hợp lệ từ giới trẻ sinh sống tại thành phố Hà Nội. Cơ cấu mẫu được chia thành 2 nhóm chuyên biệt: 81 người có công việc/chuyên môn liên quan đến môi trường và 212 người có công việc không liên quan đến môi trường.

Kênh truyền thông nào được giới trẻ tiếp cận nhiều nhất để thu nhận thông tin về biến đổi khí hậu? Dữ liệu khảo sát chỉ ra hai kênh chủ đạo có điểm trung bình cao nhất là truyền hình TV (điểm trung bình 8,371; phương sai 2,61) và Internet (điểm trung bình 8,338; phương sai 2,45). Các nguồn tin từ nơi làm việc/nơi ở (6,736) và gia đình/bạn bè (6,728) ghi nhận mức độ tiếp cận thấp hơn.

Những biến quan sát nào đã bị loại bỏ trong quy trình kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha? Có 6 biến quan sát bị loại bỏ khỏi mô hình do không đáp ứng tiêu chuẩn độ tin cậy hoặc hệ số tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,3: biến HB2 (Sự hiểu biết về biểu hiện của BĐKH), biến ST1 (Thích các công việc liên quan đến môi trường và BĐKH), biến NN2 (Nạn chặt phá rừng bừa bãi), biến NN3 (Sự phát triển của đô thị hóa và công nghiệp hóa), biến TĐ5 (Thiệt hại về vật nuôi, cây trồng, đất canh tác), và biến BP6 (Sự thay đổi hình thức canh tác và sản xuất của người dân).

Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA đạt được các chỉ số thống kê then chốt nào? Phân tích EFA trên 27 biến quan sát còn lại đạt hệ số kiểm định KMO = 0,827; kiểm định Bartlett có giá trị Chi-square = 5404,404 với bậc tự do df = 351, mức ý nghĩa Sig = 0,000; trích xuất được 6 nhóm nhân tố có Eigenvalue > 1 với tổng phương sai giải thích đạt 74,925%.

Khía cạnh nhận thức nào về biến đổi khí hậu của giới trẻ ghi nhận tỷ lệ đúng thấp nhất? Nhận thức về biện pháp ứng phó với BĐKH ghi nhận tỷ lệ đúng thấp nhất trong 5 chiều cạnh khảo sát, chỉ đạt 57,34% (168 người nhận thức đúng trên tổng số 293 người), trong khi có tới 42,66% người tham gia khảo sát có nhận thức chưa đúng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thu Quỳnh phản ánh bức tranh thực trạng nhận thức về biến đổi khí hậu của giới trẻ Hà Nội năm 2021 qua một thiết kế nghiên cứu định lượng chặt chẽ. Kết quả khảo sát trên 293 cá nhân cho thấy mức độ nhận thức đúng có sự chênh lệch rõ nét giữa các chiều cạnh (cao nhất ở nhận thức nguyên nhân đạt 74,06% và thấp nhất ở biện pháp ứng phó đạt 57,34%), đồng thời khẳng định nhóm có chuyên môn môi trường sở hữu hiểu biết vượt trội so với nhóm còn lại. Thông qua công cụ phân tích Cronbach's Alpha và nhân tố khám phá EFA, công trình đã định hình 6 nhóm nhân tố then chốt chi phối nhận thức, tạo tiền đề dữ liệu xác thực cho các hàm ý chính sách truyền thông và giáo dục môi trường tại địa phương.