CHƯƠNG 1: TONG QUAN TÀI LIEU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NHẬN THỨC VỚI BIEN DOI KHÍ HẬU 11. Tống quan tài liệu 1. Các nghiên cứu về biên đôi khí hậu và tác động của biên đổi khí hậu Trong nghiên cứu “Projections and Uncertainties about Climate Change in an Era of Minimal Climate Policies” (2018), William Nordhaus đã sử dung mô hình DICE dé nghiên cứu va phát triển các dự báo mới về xu hướng va tác động của các chính sách BDKH. Bài nghiên cứu cũng đưa ra một bộ giải thiết mới về những bat ôn của BĐKH trong tương lai và so sánh với kết quả của các nghiên cứu trước.
Kết quả nghiên cứu cho thấy những giả thiết trước về khả năng BĐKH sẽ diễn ra nhanh chóng hơn trong các thế kỷ tới nếu các chính sách về BĐKH không được thực thực hiện. Mục tiêu quốc tế về BDKH có giới hạn 2°C khó có thể đạt được ngay cả khi các chính sách được thực hiện trong thời gian tới do giá Carbon cần thiết dé đạt được các mục tiêu đã tăng lên theo thời gian bởi sự trì hoãn của các chính sách. Từ đó, tác giả cho rằng các quốc gia nên chờ cho đến khi những bat ổn về thuế carbon, chi phí xã hội của cacbon,. được giải quyết hoặc khi chi phí giảm xuống thì các quốc gia mới thực hiện các mục tiêu quốc tế về BĐKH.
Werner Nel và các cộng sự (2019) với nghiên cứu “Jmplications of climate variability and change on urban and human health: A review” đã sử dụng phương pháp phân tích số liệu thứ cấp. Tác giả tổng hop tông quan tài liệu tác giả đã thay được từ năm 1981-2011 trên toàn cầu đã xảy ra những thiên tai như bão lũ, hạn hán, say nắng. dé đánh giá tác động của chúng đến sức khỏe con người. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiệt độ và bức xạ tăng là một trong những nguyên nhân chính gây ra một số bệnh liên quan đến nhiệt như ung thư da, đột quy nhiệt, bệnh tim và tiêu chảy có thể bị ảnh hưởng mạnh bởi các hiện tượng khí hậu khắc nghiệt.
Nhiệt độ trung bình hàng năm tăng cao làm cho các bệnh do nang nóng gay gắt xảy ra ngày càng gia tăng một cách đáng báo động, nên việc phòng ngừa và kiểm soát đã trở thành ưu tiên trong các chương trình y tế công cộng và các cơ quan kiểm soát dịch bệnh. Nghiên cứu cũng gợi ý rằng bảo vệ sức khỏe cộng đồng là việc của tat cả mọi người. Hơn nữa, các khái niệm giáo dục sức khỏe cộng đồng có thê được cải thiện bang cách hiệu biét rộng hơn vê các yêu tô chủ quan lam cơ sở cho 6 việc chấp nhận rủi ro và đề phòng khi tiếp xúc với các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt. Nghiên cứu đã sử dụng chỉ số nhiệt HI để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến sức khỏe qua các biến như nhiệt độ, bức xạ, gió, nhiệt độ.
Trong đó, gió và bức xạ là 2 yếu tô ảnh hưởng nhiều nhất à nguyên nhân chủ yếu gây nên các bệnh về da liễu, bệnh về đường hô hấp,. Hai yếu tố khác phổ biến được sử dụng bao gồm độ ẩm tương đối và nhiệt độ không khí vì chúng không da dạng về mặt không gian và chúng có thé được sử dụng dé đưa ra tín hiệu về tình trạng tiện nghi nhiệt trên một khu vực rộng lớn. Nghiên cứu “Bibliometric analysis ofpeer-reviewed literature on climate change and human health with an emphasis on infectious diseases” (2020) cua Waleed M. Sweileh đã dựa trên quá trình phân tích, tổng hợp từ 4247 tài liệu trong tài liệu liên quan đến sức khỏe và 1207 tài liệu liên quan đến nhiễm trùng trên Scopus kết hợp với việc sử dụng VOSviewer, Waleed M.
Sweileh đã chỉ ra một số loại bệnh truyền nhiễm thường mắc phải như sốt rét, sốt xuất huyết, arbovirus (vi rút truyén từ động vật chan đót). Bằng việc sử dụng phương pháp phân tích sinh trắc học, tác giả chỉ ra rằng ô nhiễm không khí là một chủ đề phức tạp và có ảnh hưởng cơ bản đến sức khỏe con người. CO2 là khí chính dẫn đến biến đổi khí hậu và có thé gây hại cho sức khỏe con người. Các nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí là do các hoạt động đốt nhiên liệu hóa thạch phát thải được tạo ra bởi quá trình vận chuyền, công nghiệp, đốt cháy rừng, sử dụng bình xịt và bức xạ.
Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến chất lượng không khí; ô nhiễm không khí có thể làm biến đổi khí hậu trầm trọng hơn và cả hai đều có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe con người. Biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến sức khỏe qua đường hô hấp có thể gây ra các bệnh dị ứng và bệnh hen phé quản. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng biến đổi khí hậu và nhiệt độ tăng ảnh hưởng đến truyền và phát tán nhiều mầm bệnh. Tác giả cho thấy các tài liệu về bệnh sốt rét và bệnh sốt xuất huyết nằm trong số mười tài liệu được trích dẫn nhiều nhất.
Sốt rét là bệnh truyền nhiễm thường gặp nhất do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, rất nhạy cảm với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng va các cộng sự (2010) về “Biển đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam” đã phân tích một cách rat chỉ tiết, đầy đủ về BDKH va tác động của BDKH ở Việt Nam. Các tác giả đã giới thiệu những kiến thức cơ bản về BĐKH 7 toàn cầu như các thuật ngữ về BĐKH, khí nhà kính, thực trạng về BĐKH, Nghị định thư Kyoto, vài nét sơ lược về lich sử BDKH trong những năm gần gan đây,. Bên cạnh đó các tác giả còn phân tích những tác động của BDKH trên phạm vi toàn cầu bao gồm hệ sinh thái, sản xuất lương thực, công nghiệp và cư dân, sức khỏe, nguồn nước,.
Theo kết quả nghiên cứu dựa trên các mô hình hiện đại, bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự tan rã của các khối băng, sự dãn nở của nước biển do tác động của BĐKH trong một thời gian dài sẽ gây ra ngập lụt ở các vùng thấp và các đảo nhỏ. Các biến đổi như vậy có thé kéo dai hàng nghìn năm nếu nhiệt độ van tăng từ 1-4°C so với giai đoạn 1990- 2000. Tại Việt Nam, BDKH được thé hiện mạnh mẽ qua sự biến đổi của nhiệt độ, lượng mưa, độ 4m tương đối, lượng bốc hơi, mực nước bién,. Từ những thực trạng của BDKH tại nước ta, các tác giả đã đưa ra những kịch bản BDKH trong thời gian tới và dé ra những biện pháp nhằm hạn chế tác động của BĐKH đến môi trường, sinh vật và con người.
Ngoài ra, nghiên cứu “Tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp và các sáng kiến thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện Văn Ban, tinh Lào Cai” của Hà Minh Tuân và cộng sự (2019) đã đánh giá tác động của BĐKH đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân, đồng thời phân tích các mô hình sinh kế thích ứng với BĐKH. Bằng việc sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, phỏng vấn và thảo luận nhóm, các tác giả chỉ ra rằng huyện Văn Bàn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi BĐKH. BDKH that thường dẫn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp ngày càng bap bênh, không duy trì ôn định; chi phí sản xuất tăng và hiệu quả kinh tế không cao. Người dân phải thay đổi hoạt động sinh kế bằng cách đi làm thuê ở các nơi khác hoặc tăng cường vào rừng dé tim các sản phẩm có thê sử dụng hoặc bán được.
BĐKH cũng tạo ra gánh nặng công việc ngày một nhiều đối với phụ nữ. Theo kết quả phỏng vấn người dân, các hoạt động sản xuất thích ứng với BDKH mà người dân hay làm dé ứng phó với BĐKH được chia thành 3 nhóm chính, bao gồm: sử dụng cây trồng thích ứng với BĐKH, sử dụng các kỹ thuật trồng trọt thích ứng, hoạt động hỗ trợ từ chính quyền địa phương. Bên cạnh 3 biện pháp trên, các tác giả cũng đề xuất ra một số mô hình thích ứng với tác động của BDKH như mô hình Nông — Lâm kết hợp trên đất dốc, mô hình Vườn — Ao — Chuông, mô hình trồng xen và các kỹ thuật che phủ dat, hệ thống canh tác lúa cải tiến,. Các nghiên cứu về giáo dục va nhận thức với bién doi khí hậu Robert B.
Stevenson và cộng sự (2017) với nghiên cứu “What is climate change education?” đã đánh giá sự hiểu biết của học sinh và giáo viên về BĐKH, đồng thời đánh giá các quan niệm về giáo dục BDKH tiêu biểu là giáo dục dé chuẩn bị cho các biện pháp giảm thiểu, thích ứng với BĐKH trong tương lai. Các tác giả cho rằng BĐKH không chỉ là một hiện tượng mà đó là vấn đề khoa học xã hội phức tạp, đòi hỏi nhiều hơn việc giảng dạy nội dung. Giáo dục thích ứng với BĐKH bao gồm giáo dục về thiên tai, có nghĩa là học về cách ứng phó an toàn đối với cháy rừng, lũ lụt, hạn hán, sóng thần, lốc xoáy và bão. Giáo dục về giảm thiểu rủi ro thiên tai xây dựng khả năng chống chịu của cộng đồng thông qua cách tiếp cận có hệ thống dé xác định, đánh giá và giảm thiểu rủi ro.
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cho thấy giáo dục về BĐKH không thê giới han trong các cau trúc truyền thong và không gian chương trình giảng dạy trên trường mà cần tạo ra các không gian khác dé thu hút sự tham gia của học sinh như tạo ra các cộng đồng, câu lạc bộ, các cuộc thi liên quan đến các tác động khi BDKH ở địa phương,. Những phương pháp tiếp cận mới và đang nôi này đã góp phan thay đổi lối thói quen và lối tư duy cũ, không bền vững. Cuối cùng, các tác giả cho rằng sự chuẩn bị trước những tác động của BĐKH là điều cần thiết. Điều này sẽ giúp đất nước vượt qua những bế tắc trong chương trình giảng dạy cũng như nâng cao chất lượng sống.
Trong bài nghiên cứu ““Hot-headed” students? Scientific literacy, perceptions and awareness of climate change in 15-year olds across 54 countries” cua Mary C. Oliver và cộng sự (2020) đã sử dung dit liệu thứ cấp từ Chương trình Đánh giá Học sinh Quốc tế (PISA) dé cung cấp cái nhìn sâu sắc về nhận thức của học sinh (15 tuổi) đối với van đề khí nhà kính. Các tác giả đã tìm thấy những sự khác biệt đáng ké trong nhận thức của học sinh trên toàn cầu về khí nhà kính.