Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự gia tăng nhanh chóng của chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) cùng tốc độ đô thị hóa và phát triển kinh tế đang tạo ra áp lực lớn đối với môi trường tại Việt Nam. Theo Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia (2019), tổng lượng CTRSH phát sinh trên cả nước đã tăng 46% so với năm 2010; trong đó, lượng phát sinh tại khu vực đô thị đạt 35.624 tấn/ngày và khu vực nông thôn đạt 28.394 tấn/ngày. Tình trạng rác thải chưa được phân loại tại nguồn, thu gom thiếu đồng bộ và xử lý chưa triệt để là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí. Đặc biệt, Luật Bảo vệ môi trường 2020 quy định cơ chế thu phí rác thải theo khối lượng/thể tích và bắt buộc phân loại CTRSH từ ngày 01/01/2022, đặt ra nhiều thách thức đối với khu vực nông thôn do hạn chế về nguồn lực tài chính, hạ tầng kỹ thuật và nhận thức cộng đồng.

Huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định là địa bàn ven biển đang trên đà phát triển công nghiệp và dịch vụ, kéo theo lượng CTRSH phát sinh gia tăng (đạt xấp xỉ 75 tấn/ngày vào năm 2020). Dù chính quyền địa phương đã triển khai các biện pháp quản lý, nguồn lực tài chính đầu tư cho công tác này còn hạn hẹp, nhân lực chuyên trách còn thiếu và ý thức tự giác phân loại rác của người dân chưa cao. Trước thực trạng đó, chuyên đề tốt nghiệp "Tìm hiểu nhận thức của người dân về công tác phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định" được sinh viên Đỗ Thị Trang (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) thực hiện nhằm đánh giá toàn diện nhận thức cộng đồng và đề xuất giải pháp quản lý phù hợp.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận gồm 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Tìm hiểu thực trạng công tác phân loại, thu gom và xử lý CTRSH trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng.
  2. Xác định những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý CTRSH của người dân và chính quyền địa phương.
  3. Đánh giá nhận thức của người dân về tầm quan trọng, phương thức phân loại, thu gom, xử lý CTRSH và mức độ sẵn lòng chi trả (WTP) cho dịch vụ vệ sinh môi trường.
  4. Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của người dân và hoàn thiện công tác quản lý CTRSH tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức và hành vi của người dân về công tác phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt.
  • Phạm vi không gian: Huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định; điều tra khảo sát thực tế tập trung tại 3 địa bàn đại diện: thị trấn Liễu Đề, xã Nghĩa Thái và xã Nghĩa Minh.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu sơ cấp được điều tra trong tháng 10 và tháng 11 năm 2021; dữ liệu thứ cấp về hiện trạng môi trường và phát sinh rác thải được thu thập trong giai đoạn 2010 - 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng khung lý thuyết dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và các nghiên cứu quản lý chất thải rắn:

  • Cơ sở pháp lý: Luật Bảo vệ môi trường 2005 (Điều 77, 78, 79), Luật Bảo vệ môi trường 2014 (Điều 95, 96, 97), Luật Bảo vệ môi trường 2020 (Điều 75, 76, 77, 78, 79); Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn; Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 61:2016/BTNMT về lò đốt chất thải rắn sinh hoạt; Quyết định số 28/2013/QĐ-UBND và Quyết định số 05/2017/QĐ-UBND của UBND tỉnh Nam Định về mức thu giá dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH.
  • Khung phân loại chất thải: Phân loại theo mức độ nguy hại (chất thải thông thường, chất thải nguy hại), theo nguồn phát sinh (sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, y tế, xây dựng) và theo thành phần hóa học (hữu cơ, vô cơ).
  • Kinh nghiệm thực tiễn: Tổng hợp mô hình quản lý của quốc tế (Nhật Bản, California - Hoa Kỳ, Singapore, Hàn Quốc, Đan Mạch) và mô hình nông thôn tại Việt Nam (Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Thanh Hóa).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp định tính và định lượng:

  • Phương pháp tổng quan tài liệu: Thu thập, phân tích các báo cáo hiện trạng môi trường, niên giám thống kê và văn bản pháp luật.
  • Phương pháp điều tra khảo sát xã hội học:
    • Điều tra định lượng: Phát phiếu hỏi theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện với dung lượng mẫu $N = 100$ hộ gia đình (thị trấn Liễu Đề: 40 hộ, xã Nghĩa Thái: 30 hộ, xã Nghĩa Minh: 30 hộ).
    • Phỏng vấn sâu định tính: Thực hiện 9 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân (3 hộ gia đình, 3 công nhân tổ thu gom rác, 3 cán bộ phụ trách môi trường cấp xã/huyện).
  • Phương pháp quan sát thực địa: Ghi nhận thực tế tại các điểm tập kết rác, tuyến đường thu gom, bãi chôn lấp và trạm lò đốt rác.
  • Phương pháp phân tích kinh tế lượng: Xử lý số liệu thống kê mô tả và ước lượng mô hình hồi quy Tobit trên phần mềm STATA để xác định các biến số ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả (WTP) của người dân.

Nguồn dữ liệu sử dụng bao gồm số liệu thống kê thứ cấp do Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Nghĩa Hưng cung cấp (giai đoạn 2010 - 2020) và dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp từ cuộc khảo sát thực địa cuối năm 2021.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về chất thải rắn, nguồn gốc phát sinh và thành phần CTRSH. Tác giả phân tích cơ chế tác động tiêu cực của rác thải chưa xử lý đến môi trường đất (quá tải khả năng tự làm sạch, tích tụ kim loại nặng), môi trường nước (nước rỉ rác ngấm vào nước ngầm) và không khí (mùi hôi, khí nhà kính $CH_4, CO_2$).

Về mặt pháp lý, chương này so sánh tiến trình điều chỉnh quy định qua Luật BVMT 2005, 2014 và điểm mới cốt lõi của Luật BVMT 2020: chuyển từ thu phí bình quân sang định giá dịch vụ theo khối lượng rác, bắt buộc phân loại CTRSH thành 3 nhóm (chất thải thực phẩm; chất thải tái chế/tái sử dụng; chất thải còn lại), đồng thời trao quyền cho đơn vị thu gom từ chối tiếp nhận rác chưa phân loại từ 01/01/2022.

Phần thực tiễn đúc kết các bài học kinh nghiệm: phân loại túi rác theo màu tại Tokyo (Nhật Bản), tính phí theo thể tích tại California và Hàn Quốc, cơ chế đấu thầu dịch vụ 7 năm tại Singapore; kết hợp các mô hình phân loại rác làm phân compost tại Vĩnh Phúc, Ninh Bình (xã Khánh Nhạc, huyện Yên Khánh) và Thanh Hóa (xã Xuân Dương, huyện Thường Xuân). Từ đó, tác giả chỉ ra 4 bài học áp dụng cho Nam Định: giảm thiểu tại nguồn để tiết kiệm diện tích bãi chôn lấp, tận dụng rác hữu cơ ủ phân bón, quy hoạch điểm trung chuyển hợp lý và áp dụng nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền".

Chương 2: Tổng quan địa bàn nghiên cứu và thực trạng công tác phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Nghĩa Hưng

Chương 2 trình bày điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của huyện Nghĩa Hưng (diện tích 258,89 $\text{km}^2$, 24 đơn vị hành chính cấp xã gồm 3 thị trấn và 21 xã; dân số trên 188.000 người; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 8,3%/năm giai đoạn 2018 - 2020). Địa hình bằng phẳng tạo thuận lợi cho xe thu gom, nhưng mạng lưới sông ngòi dày đặc ($0,6 - 0,9\text{ km/km}^2$) dẫn đến hiện tượng vứt rác trộm xuống nguồn nước.

Dữ liệu thống kê giai đoạn 2010 - 2020 cho thấy khối lượng phát sinh CTRSH tại huyện tăng liên tục:

Năm Tổng khối lượng phát sinh (tấn/năm) Lượng phát sinh bình quân (tấn/ngày) Bình quân đầu người (kg/người/ngày)
2010 19.053 ~52,2 ~0,28
2012 21.635 ~59,3 ~0,31
2014 23.178 ~63,5 ~0,33
2016 24.364 ~66,7 ~0,35
2018 26.015 ~71,3 ~0,38
2020 27.523 ~75,4 ~0,40

Về thành phần CTRSH năm 2020: chất thải hữu cơ chiếm tỷ lệ cao nhất với 56,3%; gạch vụn, đá sỏi xây dựng chiếm 15,4%; chất dẻo, cao su và nhựa chiếm 5,7%; phần còn lại là kim loại, thủy tinh, giấy, sành sứ và tạp chất.

Thực trạng tổ chức quản lý:

  • Phân loại: Hầu hết hộ dân chưa phân loại tại nguồn (trừ mô hình thí điểm tại xã Nghĩa Minh), rác tái chế đem bán phế liệu chỉ chiếm khoảng 5%. Tại các bãi chôn lấp (BCL), việc phân loại trên sân phơi hầu như không được thực hiện.
  • Thu gom: Tỷ lệ thu gom toàn huyện đạt 88,2% (xã Nghĩa Tân đạt cao nhất 96,4%, TT Liễu Đề 96,4%, TT Quỹ Nhất 90,3%, thấp nhất là xã Nghĩa Châu 77,1%). Phương tiện thu gom gồm xe kéo, xe công nông dưới 2,5 tấn (2-3 xe/xã), thùng xe nhiều nơi xuống cấp làm rò rỉ nước rác. Tần suất thu gom đạt 2 - 3 ngày/lần.
  • Xử lý: Toàn huyện có 12/24 xã/thị trấn sử dụng BCL, nhưng chỉ 4 đơn vị có hệ thống xử lý nước rỉ rác (Nghĩa Trung, TT Quỹ Nhất, TT Rạng Đông, Nghĩa Sơn). Đồng thời, huyện có 13 lò đốt rác sinh hoạt (công nghệ T-Tech, LOSIHO, TH-15) với công suất 300 - 350 kg/h, đạt quy chuẩn QCVN 61:2016/BTNMT.
Hình thức công trình xử lý Số lượng đơn vị hành chính áp dụng Tên các đơn vị tiêu biểu
Bãi chôn lấp (BCL) 12 xã/thị trấn Nghĩa Thái, Nghĩa Minh, TT Quỹ Nhất, TT Rạng Đông, Nghĩa Sơn, Nghĩa Bình, Nghĩa Thịnh, Nghĩa Lợi...
Lò đốt CTRSH (LOSIHO, T-Tech, TH-15) 13 xã/thị trấn Nghĩa Đồng, TT Liễu Đề, Nghĩa Hồng, Nghĩa Lâm, Nghĩa Hùng, Nghĩa Hải, Nghĩa Châu, Nghĩa Thịnh...
  • Phí thu gom: Mức thu thực tế phổ biến là 7.000 đồng/người/tháng tại xã Nghĩa Thái, Nghĩa Minh và 8.000 đồng/người/tháng tại TT Liễu Đề, thu định kỳ 6 tháng/lần qua trưởng thôn.

Chương 3: Đánh giá nhận thức của người dân về công tác thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn sinh hoạt

Chương 3 trình bày kết quả phân tích dữ liệu khảo sát 100 hộ gia đình (54 nữ, 46 nam; 67% thuộc độ tuổi 31 - 50; 67% có trình độ THCS và THPT; nghề nghiệp đa dạng với 27% cán bộ/viên chức, 25% buôn bán, 22% công nhân, 6% thuần nông):

  1. Nhận thức về phân loại CTRSH:

    • 68% người dân nhận thức việc phân loại là quan trọng và rất quan trọng (nhóm tuổi 27 - 50 chiếm 58/79 người đánh giá cao); 19% cho là bình thường; 13% đánh giá không quan trọng.
    • Trong thực tế, chỉ có 42% hộ có thực hiện phân loại tại nguồn, 58% không phân loại. Người phụ trách phân loại và đổ rác chính trong gia đình là phụ nữ/người vợ (53/88 trường hợp phản hồi).
    • 74% hộ dân tập kết rác trước cổng nhà, 17% bỏ vào thùng rác công cộng, 9% vứt tại bãi đất gần nhà. Nguyên nhân chính là do thói quen lâu đời và thiếu hạ tầng thùng rác công cộng.
  2. Mức độ hài lòng đối với dịch vụ thu gom:

Tiêu chí đánh giá Rất hài lòng Hài lòng Bình thường Không hài lòng Rất không hài lòng
Tần suất thu gom 13% 23% 32% 26% 6%
Thời điểm thu gom 17% 25% 35% 19% 4%
Khối lượng thu gom 18% 27% 37% 11% 7%

Tỷ lệ không hài lòng còn tồn tại do tần suất 2-3 ngày/lần dẫn đến ứ đọng rác, thời gian thu gom không cố định và công nhân không thu gom các loại rác thải cồng kềnh.

  1. Nhận thức về xử lý và nộp phí vệ sinh:

    • Gần 60% người dân không biết công nghệ xử lý rác thải cụ thể của địa phương.
    • Tỷ lệ hộ gia đình chấp hành nộp phí vệ sinh đạt 86%. Đa số hài lòng với phương thức thu gộp 6 tháng/lần theo mùa vụ nông nghiệp do trưởng thôn thực hiện (58/86 hộ hài lòng và rất hài lòng).
  2. Ước lượng mức sẵn lòng chi trả (WTP) bằng mô hình Tobit:

    • Mức WTP bình quân của các hộ gia đình đạt 24.210 đồng/hộ/tháng (dao động từ 0 đến 60.000 đồng/hộ/tháng). Tỷ lệ hộ sẵn lòng chi trả mức 20.000 đồng/tháng chiếm cao nhất (29%), tiếp đến là 25.000 đồng/tháng (18%) và 15.000 đồng/tháng (17%); có 5% hộ không sẵn lòng chi trả thêm.
    • Kết quả hồi quy Tobit trên STATA chỉ ra:
      • Biến thu nhập bình quân (Inc): Hệ số hồi quy mang dấu dương (+3.030, $p < 0.05$), cho thấy thu nhập hộ gia đình tăng 1 triệu đồng thì mức WTP tăng thêm khoảng 3.030 đồng.
      • Biến giới tính (Gender): Phụ nữ có mức sẵn lòng chi trả cao hơn nam giới do trực tiếp quản xuyến công việc nội trợ.
      • Biến trình độ học vấn (Schooling): Học vấn cao hơn có xu hướng tăng mức WTP (+0.028).
      • Biến mức độ hài lòng (Satis): Hệ số dương (+2.047), chứng minh sự hài lòng với chất lượng dịch vụ tỷ lệ thuận với mức sẵn lòng đóng góp tài chính.
      • Biến quy mô hộ (Size): Hệ số mang dấu âm (-1.091).
      • Biến nhận thức môi trường (Env): Tác động tích cực (+1.039) đến mức WTP.

Chương 4: Đề xuất giải pháp nâng cao nhận thức của người dân về phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt

Chương 4 xây dựng hệ thống giải pháp dựa trên định hướng quản lý CTRSH của tỉnh Nam Định và kết quả khảo sát:

  • Giải pháp đối với UBND cấp xã/thị trấn và đơn vị thu gom:
    • Quy định cụ thể thời gian, tần suất và công bố công khai lộ trình thu gom rác trên từng tuyến đường; thiết lập cơ chế thu gom định kỳ đối với rác cồng kềnh.
    • Nâng cấp phương tiện thu gom: trang bị bạt phủ kín, xe chuyên dụng chống rò rỉ nước rỉ rác; bố trí các thùng rác 2-3 ngăn tại các khu dân cư tập trung.
    • Tăng cường kiểm tra, giám sát kỹ thuật vận hành các lò đốt rác (T-Tech, TH-15, LOSIHO) và đầu tư hoàn thiện hệ thống thu gom, xử lý nước rỉ rác tại 12 bãi chôn lấp.
  • Giải pháp đối với cộng đồng dân cư:
    • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật phân loại CTRSH tại nguồn thành 3 nhóm theo Luật BVMT 2020 thông qua hệ thống loa truyền thanh xã và các tổ chức đoàn thể (Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, UBMTTQ).
    • Triển khai nhân rộng mô hình ủ rác hữu cơ bằng chế phẩm sinh học làm phân bón compost tại vườn nhà cho các hộ gia đình ở nông thôn.
    • Điều chỉnh lộ trình giá dịch vụ thu gom theo hướng "tính đúng, tính đủ" tiệm cận mức sẵn lòng chi trả của người dân (20.000 - 25.000 đồng/hộ/tháng) nhằm giảm dần gánh nặng trợ cấp từ ngân sách nhà nước.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

Khóa luận đã lượng hóa toàn diện bức tranh quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Nghĩa Hưng:

Chỉ số / Biến số nghiên cứu Giá trị định lượng Ghi chú nguồn dữ liệu
Khối lượng phát sinh CTRSH toàn huyện (2020) 27.523 tấn/năm (~75,4 tấn/ngày) Báo cáo Phòng TN&MT huyện Nghĩa Hưng
Phát sinh CTRSH bình quân đầu người ~0,40 kg/người/ngày Tăng 1,3 lần so với năm 2010 (0,28 kg)
Tỷ lệ chất thải hữu cơ trong CTRSH 56,3% Chiếm hơn nửa tổng lượng rác
Tỷ lệ chất thải nhựa, nilon 5,7% Thách thức lớn trong xử lý
Tỷ lệ thu gom CTRSH toàn huyện (2020) 88,2% Cao nhất Nghĩa Tân (96,4%), thấp nhất Nghĩa Châu (77,1%)
Hạ tầng công trình xử lý CTRSH 12 bãi chôn lấp, 13 lò đốt Lò đốt công suất 300-350 kg/h theo QCVN 61:2016
Tỷ lệ nhận thức tầm quan trọng của phân loại 68% Mẫu khảo sát $N = 100$
Tỷ lệ hộ thực tế có phân loại tại nguồn 42% Tỷ lệ không phân loại: 58%
Tỷ lệ hộ dân chấp hành nộp phí vệ sinh 86% Thu 6 tháng/lần qua trưởng thôn
Mức sẵn lòng chi trả bình quân (WTP) 24.210 đồng/hộ/tháng Ước lượng mô hình Tobit ($Min=0, Max=60.000$)
Tác động của thu nhập (Inc) lên WTP +3.030 (hệ số Tobit) Có ý nghĩa thống kê ở mức 5%
Tác động của mức độ hài lòng (Satis) lên WTP +2.047 (hệ số Tobit) Có ý nghĩa thống kê ở mức 5%

Đóng góp của đề tài

  • Ý nghĩa lý luận: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa nhận thức môi trường, các đặc điểm nhân khẩu học - kinh tế (thu nhập, giới tính, học vấn, sự hài lòng) và mức sẵn lòng chi trả (WTP) cho dịch vụ thu gom, xử lý rác thải nông thôn.
  • Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp cơ sở dữ liệu vi mô phục vụ công tác quản lý tài nguyên và môi trường tại huyện Nghĩa Hưng, làm căn cứ để chính quyền địa phương xây dựng biểu giá dịch vụ vệ sinh và phương án thực thi phân loại rác bắt buộc theo Luật BVMT 2020.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Quy mô khảo sát giới hạn ở 100 hộ gia đình tại 3 xã/thị trấn (Liễu Đề, Nghĩa Thái, Nghĩa Minh) do điều kiện thời gian thực tập và ảnh hưởng của dịch bệnh cuối năm 2021.
    • Phương pháp chọn mẫu thuận tiện có thể chưa bao quát toàn diện các đặc thù phân hóa giữa các xã thuần nông, xã ven biển và các cụm công nghiệp mới hình thành.
    • Nghiên cứu tập trung vào khía cạnh kinh tế - xã hội học và nhận thức cộng đồng, chưa thực hiện các phân tích hóa lý chuyên sâu về chất lượng môi trường xung quanh các bãi chôn lấp và khí thải lò đốt.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi điều tra với cỡ mẫu đại diện lớn hơn trên toàn bộ 24 xã/thị trấn của huyện Nghĩa Hưng.
    • Thực hiện các nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của mô hình ủ phân compost quy mô hộ gia đình và phân tích chi phí - lợi ích (CBA) khi chuyển đổi sang cơ chế tính giá dịch vụ theo thể tích/khối lượng túi rác.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kinh tế Môi trường, Quản lý Đô thị và Phát triển Nông thôn trong việc ứng dụng phương pháp khảo sát xã hội học và mô hình hồi quy Tobit để đánh giá mức sẵn lòng chi trả (WTP).
  • Cán bộ quản lý môi trường cấp huyện, xã: Tham khảo dữ liệu thực trạng hạ tầng lò đốt, bãi chôn lấp và các nguyên nhân gây không hài lòng của người dân để hoàn thiện quy trình thu gom, vận chuyển và định mức giá dịch vụ rác thải tại địa phương.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Chương 3 với bảng hỏi khảo sát nhận thức chi tiết, bảng thống kê mô tả biến số và quy trình ước lượng mô hình Tobit bằng phần mềm STATA.

Câu hỏi thường gặp

1. Khối lượng và thành phần CTRSH phát sinh tại huyện Nghĩa Hưng năm 2020 được ghi nhận như thế nào?

Năm 2020, tổng khối lượng CTRSH phát sinh trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng là 27.523 tấn/năm (tương đương khoảng 75,4 tấn/ngày), gấp 1,4 lần so với năm 2010. Lượng rác phát sinh bình quân đầu người đạt khoảng 0,40 kg/người/ngày. Trong đó, chất thải hữu cơ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 56,3%; gạch vụn và đá sỏi chiếm 15,4%; rác thải nhựa chiếm 5,7%; phần còn lại là kim loại, thủy tinh, giấy, sành sứ và tạp chất khác.

2. Thực trạng phân loại và tỷ lệ thu gom CTRSH tại địa bàn nghiên cứu ra sao?

Tỷ lệ thu gom CTRSH toàn huyện năm 2020 đạt 88,2% (xã Nghĩa Tân đạt cao nhất với 96,4%, thấp nhất là xã Nghĩa Châu với 77,1%). Tuy nhiên, công tác phân loại tại nguồn hầu như chưa được triển khai đồng bộ (chỉ có xã Nghĩa Minh làm thí điểm). Khảo sát 100 hộ dân cho thấy có 58% hộ không phân loại rác trước khi thải bỏ, rác tái chế bán cho cơ sở phế liệu chỉ chiếm khoảng 5% tổng lượng CTRSH, và 74% hộ dân vẫn giữ thói quen để rác trước cổng nhà chờ công nhân đến thu gom.

3. Người dân huyện Nghĩa Hưng có mức sẵn lòng chi trả (WTP) bình quân là bao nhiêu?

Theo kết quả khảo sát, mức sẵn lòng chi trả bình quân của các hộ gia đình để nâng cao chất lượng dịch vụ quản lý CTRSH là 24.210 đồng/hộ/tháng. Tỷ lệ hộ sẵn lòng trả mức 20.000 đồng/hộ/tháng chiếm cao nhất (29%), tiếp đến là mức 25.000 đồng/hộ/tháng (18%) và 15.000 đồng/hộ/tháng (17%). Có 5% hộ gia đình được hỏi không sẵn lòng chi trả thêm phí vệ sinh.

4. Mô hình hồi quy Tobit chỉ ra những yếu tố nào ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả (WTP)?

Kết quả ước lượng mô hình Tobit trên phần mềm STATA cho thấy: thu nhập bình quân của hộ gia đình (Inc, hệ số +3.030) và mức độ hài lòng về chất lượng quản lý CTRSH (Satis, hệ số +2.047) có tác động tích cực, có ý nghĩa thống kê ở mức 5% đến mức WTP. Bên cạnh đó, nữ giới (Gender), trình độ học vấn (Schooling) và nhận thức cảnh quan môi trường (Env) đều tác động thuận chiều đến mức sẵn lòng đóng góp tài chính, trong khi quy mô số người trong hộ (Size, hệ số -1.091) có tương quan nghịch.

5. Hạ tầng kỹ thuật xử lý CTRSH tại huyện Nghĩa Hưng gồm những loại công trình nào?

Tính đến năm 2020, huyện Nghĩa Hưng có 12 xã/thị trấn xử lý CTRSH bằng bãi chôn lấp (nhưng chỉ có 4 đơn vị có hệ thống xử lý nước rỉ rác gồm Nghĩa Trung, TT Quỹ Nhất, TT Rạng Đông, Nghĩa Sơn) và 13 xã/thị trấn sử dụng lò đốt CTRSH không dùng nhiên liệu (các dòng công nghệ T-Tech, LOSIHO, TH-15) với công suất thiết kế từ 300 - 350 kg/h, đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 61:2016/BTNMT.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp đã phản ánh toàn diện thực trạng phát sinh, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt và phân tích sâu sắc nhận thức của người dân tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Kết quả nghiên cứu chỉ ra khoảng cách rõ rệt giữa nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường (68%) và hành vi phân loại rác thực tế tại nguồn (42%), đồng thời xác định mức sẵn lòng chi trả trung bình của người dân đạt 24.210 đồng/hộ/tháng. Các nhóm giải pháp đồng bộ từ nâng cấp hạ tầng thu gom, kiểm soát vận hành lò đốt/bãi chôn lấp đến tuyên truyền mô hình ủ rác hữu cơ tại hộ gia đình mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác quản lý tài nguyên và môi trường tại địa phương trong giai đoạn thực thi Luật Bảo vệ môi trường 2020.