Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phân loại, thu gom và xử lý chat thải rắn sinh hoạt Chương 2: Tổng quan địa bàn nghiên cứu và thực trạng công tác phân loại, thu gom và xử lý chat thải ran sinh hoạt của người dân tại dia bàn nghiên cứu Chương 3: Đánh giá nhận thức của người dân huyện Nghĩa Hưng trong công tác phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn thải sinh hoạt Chương 4: Đề xuất giải pháp nâng cao nhận thức của người dân về phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt 4 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE PHAN LOẠI, THU GOM VA XU LY CHAT THAI RAN SINH HOAT 1. Khai niệm và phân loại chat thải rắn 1. Khái niệm chất thải và chất thải rắn a. Khái niệm về chất thải Theo Khoản 10, Điều 3 Luật BVMT năm 2005: “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”.
Theo Khoản 12, Điều 3 Luật BVMT năm 2014: “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Theo Khoản 18, Điều 3 Luật BVMT năm 2020: “Chat thải là vật chất ở thé rắn, lỏng, khí hoặc ở dạng khác được thải ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Như vậy, khái niệm “chất thải” được Luật BVMT qua các năm 2005 — 2020 đều thừa nhận chat thải là vật chat tồn tại ở thé ran, lỏng, khí và phát sinh từ quá trình sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và hoạt động khác. Tuy nhiên, theo Luật BVMT mới nhất năm 2020 thì chất thải còn tồn tại ở dạng khác.
Trong bài chuyên đề này, “chất thải” được tác giả tìm hiểu là “những chất mà con người không sử dụng nữa và thải ra môi trường xung quanh từ quá trình sản xuất, tiêu dùng, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”. Theo Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP về “Quản lý chất thải và phế liệu”: “Phân loại chất thải là hoạt động phân tách chất thải (đã được phân định) trên thực tế nhằm chia thành các loại hoặc nhóm chất thải để có các quy trình quản lý khác nhau; Vận chuyền chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý, có thê kèm theo hoạt động thu gom, lưu giữ (hay tập kết) tạm thời, trung chuyên chất thải và sơ chế chất thải tại điểm tập kết hoặc trạm trung chuyên; Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chat thải và các yếu tổ có hai trong chất thải”. Trên đây là một vài phân đoạn trong quy trình quản lý chất thải và phế liệu, bao gồm: phân loại; thu gom, vận chuyên và xử lý chất thải. Đây đều là những bước cơ bản mà bat kì cá nhân, tô chức, cơ sở, địa phương nào cũng phải thực hiện.
Khái niệm về chât thải răn Theo Khoản 2 Điều 3 Nghị định 59/2007/NĐ-CP về “Quản lý chất thải rắn” (QLCTR), “CTR là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”. Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP về “Quản lý chất thải và phế liệu”, “CTR là chất thai ở thé ran hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”. Theo Luật BVMT 2020, “CTR là chất thải ở thé rắn hoặc bùn thải”. Như vậy, các văn bản pháp lý từ năm 2007 — 2020 đều thống nhất thừa nhận rằng CTR đều tồn tại ở dạng rắn và được thải ra từ quá trình sản xuất như công nghiệp, sinh hoạt, tiêu dùng, v.
Trước đây, khái nệm CTR chỉ được nêu trong các Nghị định và chưa được nêu cụ thé trong Luật BVMT. Tuy nhiên, Luật BVMT 2020 đã đưa ra khái niệm về CTR một cách ngắn gọn và súc tích hơn hai nghị định trên. Việc đưa các van dé của CTR vào Luật BVMT năm 2020 cho thay CTR đã tác động rất lớn đến các hoạt động kinh tế - xã hội của con người hiện nay. Trong bài chuyên đề, khái niệm về CTR được tác giả tìm hiểu là: “những chất thải ở thể rắn, bắt nguồn từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt và các hoạt động khác”.
Phân loại chất thải rắn Theo môn Quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại (Trường Đại học KTQD), CTR được phân loại: - Thứ nhất, theo mức độ nguy hại: + CTR thông thường: là các chất thải không thuộc danh mục chất thải nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại. + CTR nguy hại: là chất thải có chứa các chất hoặc các hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dé cháy nỗ, ăn mòn, phản ứng, độc tính) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe con người. Dé cháy: là các chất lỏng có điểm bốc cháy dưới 60°C hoặc các chất có khả năng gây cháy thông qua va chạm, hút âm, thay đổi hóa học tự nhiên. An mon: các chất thải có thé phá hủy các mô sống hoặc ăn mòn các chat thông qua các phản ứng hóa học.
Tinh phản ứng: các chất thải phản ứng mạnh với không khí hoặc với nước. Chúng có thể nỗ hoặc tạo ra các chất khí độc hại. Độc tinh: là mức độc hại tiềm tàng đối với sức khỏe con người. - _ Thứ hai, theo nguồn: + CTRSH (còn gọi là rác sinh hoat): là CTR phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người.
+ CTR nông nghiệp: là những chat thải và mau thừa thải ra từ hoạt động nông nghiệp. + CTR công nghiệp: là CTR phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiêu thủ công nghiệp. + CTR y tế: là vật chất ở thé ran được thải ra từ các cơ sở y tế. + CTR xây dung: là CTR được thải ra do phá đỡ, cải tạo các hạng mục/công trình xây dựng cũ hoặc từ quá trình xây dựng các hạng mục/công trình mới hoặc các chất thải từ các hệ thông cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
- _ Thứ ba, theo thành phan hóa hoc: + CTR hữu cơ: Chất thải chủ yếu từ thực phẩm, rau củ quả, phế thải nông nghiệp, chất thải chế biến thức ăn v. có nguồn gốc từ tự nhiên và có thành phần chính là C, H, O nên rất dé phân hủy. Rac thải hữu cơ khi xử lý có thé dùng làm phân bón cho cây trồng hoặc thức ăn cho động vật. + CTR vô cơ: Chủ yếu là chất thải từ vật liệu xây dựng như đá, sỏi, xi măng, thủy tinh v.thường không thé tái chế và không thé sử dụng được nữa nên khi xử lý chỉ có thé dùng biện pháp chôn lap.
Như vậy, việc phân loại CTR tùy thuộc vào mục đích của quá trình quản lý. Nếu phân loại CTR theo mức độ nguy hại thì sẽ phải phân loại theo CTR thông thường và nguy hại dé từng loại nay sẽ có phương pháp, có cách thức quản lý khác nhau. CTR nguy hại sẽ phải có quá trình phân loại, lưu giữ trong điều kiện đặc biệt. Ví dụ như các chất thải y tế sẽ phải lưu giữ trong kho lạnh.
Đó có thể là những tế bào, mô bệnh phẩm cần phải được lưu giữ trong kho lạnh. Việc lập số ghi chép giữa đơn vị phát sinh CTR và đơn vị thu gom cũng rất cần thiết và quan trọng. Nếu phân loại CTR theo nguồn, mỗi chất thải có đặc thù và tính chất khác nhau. Ví dụ, CTRSH cơ bản là chất hữu cơ, một phần là vô cơ và túi nhựa.
CTR nông nghiệp sẽ có phụ phẩm và phế phẩm nông nghiệp. Và thông thường, quản lý CTR nông nghiệp có thé theo hình thức tiếp cận tuần hoàn chất thải và TSD chất thải. CTR nông nghiệp sẽ có những cách thức phân loại riêng biệt dé xem xét tính chất, mức độ nguy hại của chất thai dé quản lý. Nguồn phát sinh chất thải ran CTR được thải ra từ quá trình sản xuat, tiêu dùng trong đời sống xã hội của con người, trong đó rác thải chiếm khối lượng lớn chủ yếu đến từ khu dân cư và các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp (Trần Hiếu Nhuệ và các cộng sự, 2008), các nguồn phát sinh CTR là: ` Nơi vui chơi, giải Cơ quan, trường học 5 cư trí Dich vu, thuong | Chất thai rắn Bệnh viện, CƠ SỞ y mại, xe, nhà ga té Giao thông, xây Nông nghiệp, hoạt Khu công nghiệp, dựng động xử lý rác thải nhà máy, xí nghiệp Hình 1.
Sơ đồ nguồn phát sinh CTR = Nguồn: Tran Hiéu Nhựa và cs, 2008 Có thể thấy rằng, trong các nguồn gốc phát sinh trên, CTR thải ra từ nhà dân, khu dân cư là lớn nhất và mỗi nguồn lại mang những đặc tính khác nhau. CTR từ hoạt động sản xuất nông nghiệp thông thường phát sinh sau mỗi mùa thu hoạch, có khối lượng lớn nhưng hau hết trong số đó là các chat thải hữu cơ có khả năng tái chế hoặc TSD. Cụ thé như thức ăn thừa, giấy vụn, bao bì, hộp nhựa, v. nên khối lượng rất lớn và có nhiều chat thải có thé tái chế, TSD.
Tuy nhiên, ni lông là loại chất thải rất khó xử lý vì thời gian túi ni lông phân hủy có thê lên tới vài trăm. Vì thế đây là bài toán nan giải và những biện pháp hạn chế sử dụng túi ni lông là rất cần thiết. CTR từ bệnh viện hay cơ sở y tế thường là kim tiêm, ống nhựa, v. Sức khỏe của con người bị ảnh hưởng bởi các chất thải này vì có những thành phần nguy hại và tỷ lệ tái chế hay TSD là rất thấp.
CTR phát sinh từ hoạt động xây dựng thông thường phát sinh sau mỗi lần các công trình xây dựng bị đỡ bỏ, sửa chữa và những chất thải này sau đó sẽ được sử dụng dé mang đi san lấp ở những nơi khác. Nguồn gốc và thành phan chất thải rắn sinh hoạt Theo Báo cáo hiện trạng Môi trường Quốc gia 2019, nguồn gốc và thành phần CTRSH được trình bày như sau: Bảng 1. Nguồn gốc và thành phần CTRSH Nguồn gốc Thành phần Hộ gia đình, các | - CTRSH: thực pham, giấy, bìa, nhựa, vải, cao su, kim loại, hoạt động sản xuất, | rác vườn, gỗ, sành, sứ, thủy tinh, ta lót, khăn vệ sinh,. công sở, khu công | - Chất thải nguy hại: đồ điện, pin, bao bì thuốc bảo vệ thực vật.