Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 1. Khái niệm, ý nghĩa nhân thân người phạm tội XPSH có TCCĐ 1. Khái niệm tội XPSH có TCCĐ Các tội XPSH được quy định tại chương XXIV Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009, gồm 13 tội được quy định từ điều 133 đến điều 145. Đó là các tội: Tội cướp tài sản (Điều 133); Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134); Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135); Tội cướp giật tài sản (Điều 136); Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137); Tội trộm cắp tài sản (Điều 138); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139); Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140); Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141); Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142); Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143); Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144); Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145).
Căn cứ vào mục đích phạm tội, khoa học luật hình sự chia các tội XPSH thành nhóm các tội có mục đích tư lợi bao gồm 10 tội từ điều 133 đến điều 142 BLHS 1999 và nhóm các tội không có mục đích tư lợi từ điều 143 đến điều 145. Đối với nhóm các tội có mục đích tư lợi, dựa vào dấu hiệu chiếm đoạt, chúng lại được chia nhỏ ra thành nhóm có TCCĐ bao gồm 8 tội từ điều 133 đến điều 140 và nhóm không có TCCĐ gồm các điều 141, 142 BLHS 1999 [15, tr. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, Tác giả tập trung vào nhóm tội phạm XPSH có TCCĐ (gồm 8 tội). Cụ thể: - Tội cướp tài sản (Điều 133); - Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134); - Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135); - Tội cướp giật tài sản (Điều 136); - Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137); - Tội trộm cắp tài sản (Điều 138); 11 - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139); - Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140).
Trong nhóm các tội phạm này, mặc dù có nhiều tội danh khác nhau, nhưng chúng đều có một đặc điểm chung, đó là luôn luôn có hành vi chiếm đoạt. Bởi vậy, để đảm bảo tính thống nhất trong quá trình nghiên cứu, cần làm sáng tỏ khái niệm “chiếm đoạt”. Khi nghiên cứu khái niệm chiếm đoạt, có thể thấy các dấu hiệu sau: + Hành vi chiếm đoạt xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản. + Bản chất của hành vi chiếm đoạt thể hiện ở chỗ, người phạm tội cố ý chiếm lấy, không hoàn trả lại tài sản của người khác (của nhà nước, của công dân) biến tài sản đó thành tài sản của mình hoặc chuyển giao cho người khác.54] Theo đó, về phương diện khách quan của hành vi chiếm đoạt có các đặc điểm: Tính bất hợp pháp; không hoàn trả lại; biến tài sản chiếm đoạt được thành tài sản của mình hoặc của người khác; gây thiệt hại cho chủ sở hữu; hình thức chiếm đoạt quy định cụ thể trong điều luật như: Cướp tài sản, cướp giật, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Hành vi chiếm đoạt bao giờ cũng là bất hợp pháp, tức là người phạm tội không có cơ sở pháp lý để lấy tài sản của người khác. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội biến tài sản đó thành tài sản của mình hoặc chuyển cho người khác. Hành vi chiếm đoạt làm cho chủ tài sản mất khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản. Hành vi chiếm đoạt dù thực hiện bằng hình thức nào đều gây ra thiệt hại vật chất cho chủ sở hữu, thiệt hại đó biểu hiện dưới dạng mất mát, hao mòn, hao hụt, làm giảm bớt giá trị tài sản.
Vì vậy, gây thiệt hại là dấu hiệu đặc trưng của hành vi chiếm đoạt và hành vi chiếm đoạt được coi là hoàn thành khi gây ra thiệt hại vật chất. Tuy nhiên, trong một số trường hợp chiếm đoạt tuy chưa gây ra thiệt hại vật chất nhưng cũng được coi là hoàn thành (như tội cướp tài sản, cướp giật tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. + Hành vi chiếm đoạt bao giờ cũng được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng vì động 12 cơ vụ lợi mà lấy tài sản của người khác, ở đây có thể thấy động cơ và mục đích vụ lợi là dấu hiệu đặc trưng của hành vi chiếm đoạt. Như vậy, từ sự phân tích trên, tác giả rút ra kết luận: chiếm đoạt là chiếm lấy không hoàn lại một cách trái phép tài sản của người khác và biến nó thành của mình hoặc chuyển cho người khác bằng hình thức khác nhau được quy định trong luật với mục đích vụ lợi.
Từ những vấn đề đã nêu ở trên cùng với việc nghiên cứu các loại giáo trình, tài liệu, tác giả cho rằng: Tội phạm XPSH có TCCĐ là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu mà trong cấu thành tội phạm của những tội phạm này có yếu tố chiếm đoạt. Khái niệm nhân thân người phạm tội XPSH có TCCĐ Con người sống trong xã hội luôn luôn tồn tại những mối quan hệ kinh tế-xã hội nhất định.Mác đã khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” [8, tr. Tự nhiên và xã hội thống nhất với nhau trong bản chất con người.Mác đã chỉ rõ vai trò của xã hội đối với sự hình thành cá nhân và vai trò của cá nhân đối với sự hình thành xã hội“Bản thân xã hội sản xuất ra con người với tính cách là con người như thế nào thì nó cũng sản xuất ra xã hội như thế” [9, tr,169]. Như vậy, đời sống sinh hoạt, kinh nghiệm sống của cá nhân được quy định bởi nội dung của các quan hệ xã hội cụ thể hình thành trong gia đình, môi trường, bạn bè trong lao động hay học tập.
Tất cả các yếu tố đó đều có ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân thân của con người. Tội phạm là một hiện tượng tiêu cực nhất trong xã hội, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật, cũng như khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng. Để quản lí xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội, Nhà nước đã quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người nào thực hiện các hành vi đó, nên tội phạm mang bản chất là một hiện tượng pháp lý. "Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là con người phạm tội 13 chứ không phải là con người nói chung.
Người phạm tội là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm" [44, tr. Như vậy, khi nghiên cứu nhân thân người phạm tội chính là nghiên cứu con người phạm tội cụ thể. Nhân thân con người là sự tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu, phản ánh bản chất của mỗi con người trong các mối quan hệ xã hội của họ, bao gồm: các đặc điểm, dấu hiệu về xã hội, nhân khẩu học như giới tính, tuổi, trình độ văn hóa, địa vị xã hội, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, nơi sinh sống, hoàn cảnh kinh tế, các đặc điểm, dấu hiệu về tâm lý như quan điểm, nhu cầu, sở thích, thói quen, lý trí, cảm xúc,. các đặc điểm, dấu hiệu, mối quan hệ xã hội khác [52, tr.
Dưới góc độ tội phạm học, nhân thân người phạm tội bao gồm toàn bộ các đặc điểm tâm, sinh lý. Các đặc điểm tâm, sinh lý phụ thuộc vào những điều kiện sống, của sự giáo dục, của những mối quan hệ… nhất định. Chính các đặc điểm đó dưới sự tác động của các điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài, của tình huống cụ thể, tạo thành động lực thúc đẩy việc thực hiện tội phạm. Như vậy, nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất xã hội của con người và các đặc điểm, dấu hiệu này kết hợp với các điều kiện, hoàn cảnh nhất định đã dẫn đến con người đó thực hiện hành vi phạm tội [52, tr.
Từ khái niệm nhân thân người phạm tội và tội phạm XPSH có TCCĐ ở trên, tác giả đưa ra định nghĩa nhân thân người phạm tội XPSH có TCCĐ như sau: Nhân thân người phạm tội XPSH có TCCĐ là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất xã hội của con người và các đặc điểm, dấu hiệu này kết hợp với các điều kiện, hoàn cảnh nhất định đã dẫn đến người đó thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm đến quan hệ sở hữu mà trong cấu thành tội phạm của những tội phạm này có yếu tố chiếm đoạt. Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội XPSH có TCCĐ Tội phạm học nghiên cứu nhân thân người phạm tội XPSH có TCCĐ với các ý nghĩa sau: 14 Thứ nhất, Nghiên cứu nhân thân người phạm các tội XPSH có TCCĐ giúp cho việc định tội, định khung và quyết định hình phạt một cách chính xác. Theo khoa học Luật hình sự: "Nhân thân người phạm tội không phải là yếu tố bắt buộc cấu thành tội phạm nhưng trong quá trình đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và xác định trách nhiệm pháp lý của người phạm tội đó thì cần phải xem xét những đặc điểm, dấu hiệu về nhân thân của người phạm tội được cân nhắc để giải quyết những vấn đề của trách nhiệm hình sự (cá thể hóa hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự, miễn và giảm hình phạt" [51, tr. Như vậy, nhân thân người phạm tội tuy không phải là một trong những yếu tố cấu thành tội phạm nhưng các đặc điểm của nhân thân người phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các vấn đề: Truy cứu trách nhiệm hình sự, định tội danh hoặc định khung hình phạt, quyết định hình phạt…Chính vì vậy, pháp luật tố tụng hình sự quy định, các đặc điểm nhân thân người phạm tội phải được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập đầy đủ trong hồ sơ vụ án và phải được thể hiện trong bản Kết luận điều tra của Cơ quan điều tra, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát và Bản án của Tòa án.